.
Cơ Đốc Nhân
1 ... 3, 4, 5, 6, 7, 8 - bottom

CÂU CHUYỆN GIA ĐÌNH

Bất Hoà Trong Hôn Nhân
Do Minh Nguyên Biên soạn & Trình bày


Có đôi vợ chồng trẻ kia có hai đứa con nhỏ: hai tuổi và năm tuổi. Người vợ muốn rằng dù thương con và gần gũi chơi đùa với con, khi cần, cha mẹ cũng phải nghiêm với con để hướng dẫn con vào kỷ luật.
Chị nhớ lời Chúa dạy rằng: Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, dầu khi nó trở về già cũng không hề lìa khỏi đó (Châm Ngôn 22:6).
Người chồng thì quan niệm khác, anh nói rằng trẻ con ngây thơ chưa biết gì, nên chờ cho đến tuổi hiểu biết rồi hãy áp dụng kỷ luật. Mỗi khi các con không vâng lời người vợ sửa phạt hoặc khi các em vòi vĩnh những điều không chính đáng mẹ không chiều thì người chồng không đồng ý, anh bênh con và muốn chiều theo ý con. Vì vợ chồng không cùng một tiêu chuẩn trong việc dạy con nên hai đứa bé có vẻ thích cha và gần với cha hơn. Không những thế, mỗi khi nói đến việc dạy con là vợ chồng không đồng ý với nhau và gia đình không vui.

Bất đồng ý kiến trong việc dạy con là điều quan trọng, có ảnh hưởng lâu dài, vì thế đây là điều không thể bỏ qua nhưng cần được giải quyết đến nơi đến chốn.



Trong Câu Chuyện Gia Đình kỳ trước, chúng tôi có trình bày mười nguyên tắc Tiến sĩ Norman Wright đề ra mà chúng ta cần áp dụng khi vợ chồng có điều bất hòa với nhau. Ước mong quý vị sẽ nhớ để khi vợ chồng có chuyện bất đồng ý kiến đem áp dụng để tình cảm vợ chồng không bị ảnh hưởng. Mười nguyên tắc đó là:

- Đừng tránh né xung đột bằng sự im lặng.

- Đừng chất chứa buồn giận trong lòng.

- Chọn thì giờ và nơi chốn thuận tiện để nói lên bất đồng ý kiến của mỗi người.

- Mổ xẻ vấn đề hai người bất đồng ý kiến, đừng mổ xẻ nhau.

- Chia xẻ ý kiến và cảm xúc một cách bình tĩnh, đừng trút cơn giận lên nhau.

- Tập trung vào vấn đề cần bàn thảo, đừng nói sang những chuyện khác.
Nếu nói người kia sai, phải cho biết thế nào là đúng.

- Tránh nói những lời lên án nhau hoặc làm tổn thương nhau.

- Đừng dựa vào khuyết điểm hay lầm lỗi để chế nhạo hay chê cười nhau.

- Đừng dựa vào lầm lỗi để chế nhạo hay chê cười nhau

- Nếu biết mình sai hãy xin lỗi; nếu đúng, đừng nói gì cả.

Trong các kỳ trước chúng tôi đã trình bày tám điểm đầu tiên nên hôm nay xin nói đến hai điểm còn lại.

Có những người có tính hay bông đùa, việc gì cũng đùa cợt, không cho là quan trọng. Những người này khi làm điều gì khiến vợ hay chồng phiền giận thì thường giả lã, nói chơi hay chọc cười để người kia đừng giận nữa.

Kinh Thánh dạy chúng ta phải tránh những lời đùa cợt không đúng lúc: Chớ nói lời tục tĩu, chớ giễu cợt, chớ giả ngộ tầm phào, là những điều không đáng, nhưng cảm tạ ơn Chúa thì hơn (Ê-phê-sô 5:3-4).

Những lời giễu cợt và giả ngộ tầm phào có người cho là vô hại nhưng Kinh Thánh cho biết đây là những điều không xứng hợp với người tin Chúa, vì thế chúng ta phải tránh. Có khi nào quý vị làm cho vợ hay chồng giận rồi không xin lỗi nhưng nói chuyện bông đùa hay chọc cho người kia cười để lấp liếm lỗi của mình không? Cách đánh trống lãng như thế chỉ làm cho người kia giận nhiều hơn vì chứng tỏ chúng ta không tôn trọng cảm xúc của họ và không nhận là mình có lỗi. Nếu chúng ta cứ bông đùa những chuyện không đáng bông đùa thì sẽ mất đi lòng kính trọng của người phối ngẫu và người chung quanh.

Quan trọng hơn nữa là khi vợ chồng đang có nan đề cần được giải quyết. Nếu vợ chồng đã đồng ý đem nan đề ra bàn thảo và đã chọn được một thì giờ và nơi chốn thuận tiện, chúng ta cần nghiêm chỉnh nói chuyện với nhau để nan đề được giải quyết. Lúc đó chúng ta cần nói năng đàng hoàng và chú ý lắng nghe, không nên lấy những khuyết điểm hay vấp váp của vợ hay chồng ra để chế nhạo và chê cười.
Có ông chồng kia có bà vợ thấp bé. Mỗi khi ông nói hay làm điều gì khiến vợ buồn, ông không nghiêm chỉnh xin lỗi nhưng đem cái vóc dáng thấp bé của vợ ra trêu chọc, để vợ không để ý đến điều lỗi của ông. Một bà vợ khác thì hay chế nhạo cái giọng nói rất là địa phương của chồng. Khi hai vợ chồng cần giải quyết một bất đồng ý kiến nào đó, người vợ thường giả giọng nói của chồng để bông đùa, khiến người chồng giận bỏ đi, không chịu ngồi lại bàn thảo nan đề đang cần được giải quyết.

Dùng lời bình phẩm hay dùng những khuyết điểm cá nhân để trêu chọc nhau hay bông đùa trước những chuyện nghiêm trọng là điều chúng ta cần tránh nếu muốn giải quyết bất hòa giữa vợ chồng.


Nếu biết mình sai hãy xin lỗi, nếu đúng đừng nói gì cả
Đây là nguyên tắc rất quan trọng, cần được áp dụng cách nghiêm chỉnh sau khi hai vợ chồng đã dành thì giờ thành thật chia xẻ tất cả cảm xúc và trình bày mọi khía cạnh của vấn đề. Đến lúc này hai người đã thấy rõ vấn đề, cũng thấy mình sai chỗ nào, đúng chỗ nào và ai đúng ai sai. Nếu thấy mình có lỗi, chúng ta cần khiêm nhường hạ mình và xin lỗi cách thành thật. Nan đề sẽ được giải quyết, bất hòa giữa vợ chồng sẽ không còn.

Sứ đồ Gia-cơ dạy: Hãy xưng tội cùng nhau và cầu nguyện cho nhau, hầu cho anh em được lành bệnh (Gia-cơ 5:16a).

Nếu sau khi phân tích mọi việc, chúng ta thấy mình đúng hay có lý nhớ đừng bao giờ nói: Thấy không, tôi đã nói là tôi đúng mà không chịu nghe. Cũng đừng có thái độ vênh váo, hả hê vì người kia nhận là họ sai còn ta đúng. Những lời nói và thái độ thiếu tế nhị lúc đó sẽ khiến người có lỗi mặc cảm, khó chịu và có thể không chấp nhận giải pháp hai người đưa ra.
Để tránh điều đó, chúng ta cần có thái độ khiêm nhường khi biết mình đúng, tốt nhất là đừng nói gì về mình nhưng nói vài lời để nâng đỡ người kia. Chúng ta cần tế nhị để người làm sai hay có lỗi không phải quá buồn, quá ân hận về việc làm hay lời nói của mình.

Khi chúng ta tế nhị, khiêm nhường, xem trọng người phối ngẫu, Chúa sẽ bù đắp và ban phước cho chúng ta. Người phối ngẫu cũng sẽ yêu thương và kính trọng chúng ta hơn.


Lời Chúa dạy rằng:" Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường" (Gia-cơ 4:6).

Trong thư Rô-ma 12:16 sứ đồ Phao-lô cũng khuyên: "Trong vòng anh em phải ở cho hiệp ý nhau. Đừng ước ao sự cao sang nhưng phải ưa thích sự khiêm nhường. Chớ cho mình là khôn ngoan."

Trong trường hợp người có lỗi nhận lỗi, chúng ta cũng cần có thái độ thích hợp, tức là sẵn sàng tha thứ và vui vẻ bỏ qua, đừng nhắc đi nhắc lại hay nói thêm điều gì khiến người đó hổ thẹn hay mang mặc cảm.

Về điều này, sứ đồ Phao-lô khuyên như sau: "Anh em là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu của Ngài, hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhân từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục. Nếu một người trong anh em có điều gì phàn nàn với kẻ khác, thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy. Nhưng trên hết mọi điều đó, phải mặc lấy lòng yêu thương, vì là dây liên lạc của sự trọn lành (Cô-lô-se 3:12-14).

Ngoài mười nguyên tắc đã trình bày, chúng tôi thấy còn một nguyên tắc quan trọng khác mà chúng ta không thể không nhắc đến, đó là cầu nguyện.

Là người tin Chúa, trước mọi vấn đề và trong mọi quyết định của đời sống, chúng ta cần cầu nguyện, dâng lên Chúa để xin Ngài hướng dẫn. Sứ đồ Phi-e-rơ dạy: "Hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em" (I Phi-e-rơ 5:7).

Chúa Giê-xu phán hứa rằng: "Quả thật, ta lại nói cùng các ngươi, nếu hai người trong các ngươi thuận nhau ở dưới đất mà cầu xin không cứ việc chi, thì Cha ta ở trên trời sẽ cho họ" (Ma-thi-ơ 18:19).

Khi hai vợ chồng đồng lòng hiệp ý cầu nguyện, Chúa sẽ soi sáng, hướng dẫn giúp chúng ta nhìn thấy vấn đề cách rõ ràng, khôn ngoan. Không những thế, với sức Chúa và tình yêu của Ngài, chúng ta sẽ có thể nhường nhịn nhau, tha thứ và giải hòa với nhau.
Bao nhiêu đôi vợ chồng bắt đầu đời sống chung trong yêu thương hài hòa nhưng dần dần giữa hai người có những đụng chạm, bất hòa. Lúc đầu chỉ là những bất hòa nhỏ, nhưng vì không biết cách giải quyết dần dần trở thành xung đột lớn, để rồi cuối cùng trở thành cay đắng nhau hoặc đưa nhau ra tòa ly dị.


Trở lại nan đề của đôi vợ chồng trong phần mở đầu bài nói chuyện hôm nay, vì vợ chồng có những cách dạy con khác nhau mà đưa đến bất hòa. Giả sử hai vợ chồng đồng ý ngồi lại, trao đổi và phân tích vấn đề cách khách quan, sau đó người chồng thấy cách dạy con của mình không đúng và bằng lòng thay đổi theo cách của vợ thì vấn đề sẽ được giải quyết. Lúc đó người vợ không nên nói thêm rằng cách dạy con của mình xưa nay là đúng, là phù hợp với Kinh Thánh hoặc nói vì chồng dễ dãi mà con không vâng lời, v.v? Những lời nói đó không xây dựng mà có thể khiến người chồng bị chạm tự ái mà không muốn sửa đổi nữa.


Minh Nguyên
Chương Trình Phát Thanh Tin Lành
PO Box 2468
Fullerton, California 92837 92837

Tel:(714) 533-2278

367573 top -

CÂU CHUYỆN GIA ĐÌNH

Đặc Điểm Một Gia Đình Vững Mạnh
[Bài 3]


Thúy là một cô bé hoạt bát vui tính, năm 14 tuổi em bắt đầu vào trung học. Vì vui tính Thúy có nhiều bạn và các bạn hay rủ em đi chơi, đi party, nhưng Thúy thường phải từ chối lời mời của bạn vì cha mẹ không cho em đi chơi hay dự party ở nhà người lạ. Thúy giận cha mẹ và xấu hổ với bạn. Em nghĩ sao cha mẹ mình quá xưa và quá khó, không cởi mở những cha mẹ khác. Em cũng xấu hổ vì bị bạn chê là nhát, là tùy thuộc cha mẹ quá nhiều.
Nhưng mười hai năm sau, bây giờ là người hướng dẫn thiếu niên trong nhà thờ, Thúy tâm sự với các em như sau: “Mười mấy năm trước chị cũng là một thiếu niên như các em. Chị muốn được tự do đi chơi, tới nhà bạn ngủ lại đêm, đi những party bạn mời nhưng cha mẹ không cho. Chị giận cha mẹ, nghĩ là cha mẹ quá nghiêm khắc, không muốn con vui với bạn bè. Nhưng bây giờ nghĩ lại chị cảm tạ Chúa cho chị có một người cha người mẹ vì yêu thương đã không ngại áp dụng kỷ luật để uốn nắn chị nên người. Chính nhờ sự nghiêm khắc của cha mẹ mà chị đã tránh được bao nhiêu nguy hiểm. Những party mà chị không được dự có chỗ người ta dùng rượu, cần sa ma túy. Trong số những bạn được tự do vui chơi có nhiều người không học đến đại học, có người vì lầm lỡ phải phá thai; chị cũng có những người bạn mới 17, 18 tuổi phải nghỉ học ở nhà nuôi con vì lỡ có con với người yêu. Hồi đó chị thường năn nỉ cha mẹ đi chơi, năn nỉ không được thì buồn khóc nhưng cha mẹ chị vẫn không đổi ý. Nếu cha mẹ các em không cho các em muốn đi đâu thì đi, làm gì thì làm, đó là điều tốt cho các em, bây giờ các em không hiểu nhưng mai kia các em sẽ hiểu và sẽ cảm ơn cha mẹ.”


Kính thưa quý vị, nếu trong gia đình chúng ta còn những đứa con nhỏ, cần được hướng dẫn, sửa dạy, chúng ta cần nghĩ lại xem, với cách dạy con của chúng ta hôm nay, mai kia khi khôn lớn và hiểu biết, con cái chúng ta sẽ cảm ơn cha mẹ hay sẽ buồn vì cha mẹ đã quá dễ dãi với các em.

Trong câu chuyện gia đình kỳ trước, chúng tôi có nói về hai yếu tố cần có để đào tạo những đứa con trưởng thành, đó là: Tình thương và kỷ luật.

Về tình thương, con em chúng ta cần có một gia đình mà cha mẹ yêu thương nhau và cả cha và mẹ đều thương con, chăm lo cho con. Tuy nhiên, tình thương phải đi kèm với kỷ luật.

Nếu cha mẹ chỉ thương con mà không có kỷ luật, con dễ trở thành hư hỏng. Ngược lại, nếu cha mẹ chỉ áp dụng kỷ luật mà thiếu thương yêu, con sẽ trở thành nhút nhát, mặc cảm và khó thành công trong đời.

Con em chúng ta cần được cha mẹ yêu thương và dùng kỷ luật để hướng dẫn các em đến chỗ kính sợ Chúa, đi trong đường lối của Chúa.


Đời sống ổn định
Yếu tố thứ ba để con em chúng ta trở nên người trưởng thành là đời sống được ổn định, ổn định về mặt tình cảm, tinh thần và ổn định trong nếp sống hằng ngày.
Ổn định về tình cảm là cha mẹ yêu thương nhau, không gây gổ nhau, không nói đến ly thân, ly dị, không tranh giành tình thương của con cái.
Ổn định về tinh thần và trong nếp sống hằng ngày là cha mẹ không thay đổi chỗ ở hay thay đổi công việc quá nhiều.
Ở tại đất nước này chúng ta có nhiều cơ hội để học hành, để thăng tiến trong ngành nghề của mình cũng như cơ hội làm giàu vì thế nhiều người thích thay đổi: thay đổi việc làm, thay đổi chỗ ở. Người nào thay đổi nhiều thường được xem là khôn ngoan, biết nắm lấy cơ hội, và hầu như càng thay đổi nhiều thì càng lên chức nhanh và lương càng cao. Rồi khi lương cao, chúng ta lại muốn đổi nhà, đổi đến nhưng khu vực sang trọng hơn. Và cứ như thế, đời sống tiếp tục thay đổi. Những người làm hoài một công việc, ở mãi một căn nhà bị xem là an phận, nhút nhát, không dám phiêu lưu.
Tuy nhiên, mỗi khi cha mẹ thay đổi việc làm, thay đổi chỗ ở, tinh thần của con cái bị xáo trộn rất nhiều. Những xáo trộn đó ảnh hưởng trên sự quân bình trong đời sống các em. Khi đời sống cha mẹ ổn định, ít thay đổi, con cái cảm thấy an toàn và quân bình hơn.

Để có đời sống ổn định, chúng ta cần bằng lòng với những điều mình có, không đứng núi này trông núi nọ, không mơ ước những điều quá khả năng hay mơ ước những điều người khác có.
Sứ đồ Phao-lô dạy: “Vả, sự tin kính cùng sự thỏa lòng ấy là một lợi lớn. Vì chúng ta ra đời chẳng hề đem gì theo, chúng ta qua đời cũng chẳng đem gì đi được. Như vậy, miễn là đủ ăn đủ mặc thì phải thỏa lòng, còn như kẻ muốn nên giàu có, ắt sa vào sự cám dỗ, mắc bẫy giò, ngã trong nhiều sự tham muốn vô lý thiệt hại kia, là sự làm đắm người ta vào sự hủy diệt hư mất” (I Ti-mô-thê 6:6-9).
Đúng như lời Kinh Thánh dạy, thỏa lòng là một lợi ích lớn. Ngược lại, không thỏa lòng sẽ mang đến nhiều tai hại. Nhiều người không bằng lòng với điều mình có, với công việc hay ngành nghề trong tay nhưng cứ muốn thay đổi, nay thử việc này mai thử việc khác. Cũng có người không bằng lòng nơi mình sinh sống, nghĩ rằng ở thành phố khác, tiểu bang khác thích hợp hơn, dễ sống hơn và vì thế đem gia đình đi hết nơi này đến nơi kia, khiến đời sống xáo trộn, tinh thần con cái bị dao động.
Nói về thay đổi trong việc làm, có một điều thấy như lợi mà không lợi, trái lại có nhiều nguy hiểm, đó là để vợ hay chồng đi làm xa một thời gian. Chẳng hạn như về Việt Nam làm ăn ba tháng hoặc nửa năm, hay đi đến một nơi mức sống không đắt đỏ, dễ làm ra tiền, để kiếm được một số tiền rồi trở về với gia đình. Tính toán như thế có thể lợi cho gia đình về mặt kinh tế nhưng sẽ có nhiều thiệt hại về những mặt khác, vì vợ chồng sống xa nhau, con cái không được ở gần cha mẹ. Như chúng tôi đã chia xẻ nhiều lần, trong đời sống, tình người quan trọng hơn tiền bạc, vật chất.
Chúng ta không nên vì tiền bạc mà hy sinh những ngày tháng được ở bên cạnh người thân yêu. Những cha mẹ đi làm ăn xa, phải vắng mặt trong gia đình sẽ không có thì giờ ở gần con để chăm sóc, dạy dỗ con. Con cái không được dạy dỗ chu đáo có thể hư hỏng, và vì xa cha mẹ, lớn lên các em không cảm thấy gần gũi thân thương với cha mẹ.

Nguy hiểm thứ hai là khi vợ chồng sống xa nhau lâu, cám dỗ sẽ đến và chúng ta sẽ khó có thể chống lại được. Khuynh hướng của con người là “xa mặt cách lòng,” khi chúng ta đặt vật chất lên trên tình vợ chồng, sẵn sàng hy sinh tình vợ chồng để có nhiều tiền, tình yêu đó không được chăm sóc nuôi dưỡng sẽ phai nhạt, dần dần chúng ta sẽ có một hôn nhân không tình yêu hoặc không còn hôn nhân nữa. Vì những lý do đó, bằng lòng với điều mình có là điều lợi lớn.

Điều thứ hai chúng ta cần làm để có đời sống ổn định là đặt mục tiêu cho đời sống. Chúng ta cần có mục tiêu cao đẹp và hướng đến để không nản lòng khi gặp khó khăn hay bị người chung quanh lung lạc. Mục tiêu của người tin Chúa là làm vinh Danh Chúa và mang lại hữu ích cho người chung quanh, chứ không phải là chạy theo tiền bạc, vật chất hay những thú vui của đời.
Một người không có mục tiêu hay phân tâm và dễ bị ảnh hưởng của người chung quanh. Khi đời sống gia đình không ổn định nhưng thay đổi thường xuyên, con cái sẽ bị chao đảo, các em cứ phải thích ứng với hoàn cảnh mới. Các em bị mất bạn, mất khung cảnh quen thuộc và từ đó thấy hụt hẫng, bất an, thiếu tự tin ở chính mình. Tất cả những điều đó sẽ khiến con em chúng ta khó trưởng thành về mặt tinh thần.

Có lẽ quý vị còn nhớ, tháng Ba năm 2001 tại thành phố Santee, California, một vụ thảm sát xảy ra trong trường học làm mọi người kinh hoàng: Em Andy Williams, 15 tuổi, đem súng vào trường bắn chết hai người bạn và làm bị thương 13 người khác. Mọi người bàng hoàng, sửng sốt, nhất là khi thấy hung thủ là một em học trò ốm yếu và nhút nhát. Mọi người đều hỏi: Tại sao một thiếu niên hiền lành mà lại giết người kinh khủng như thế? Tuy nhiên, khi nhìn vào đời sống gia đình em Andy, người ta biết nguyên nhân nào đã đưa em đến chỗ hành động dại dột. Chúng tôi không bênh vực hành động giết người, nhưng chỉ trình bày những nguyên nhân đằng sau thảm cảnh để chúng ta thấy đời sống gia đình ảnh hưởng đến con cái như thế nào. Em Andy đang đi qua tuổi thiếu niên, là tuổi có nhiều thay đổi. Trước những thay đổi quá lớn như thế, em cần một nơi an toàn, vững chắc để nương tựa.

Ba điều con em chúng ta cần để có thể trở nên người trưởng thành là: (1) Có một gia đình yêu thương, cha mẹ yêu thương nhau và cha mẹ yêu thương, thông cảm con cái. (2) Gia đình có kỷ luật, cha mẹ hướng dẫn con vào khuôn phép và sửa dạy chỉ bảo con trong mọi việc. (3) Một môi trường thân yêu, quen thuộc, nơi các em được yêu thương và chấp nhận.


Điều đáng thương cho em Andy là em không có một điều nào trong cả ba điều nói trên.
Cha mẹ em Andy ly dị nhau khi em chưa được 4 tuổi. Em sống với cha, thiếu tình thương của mẹ. Cha em quá bận rộn với việc làm ăn sinh sống, không có thì giờ chăm sóc dạy dỗ con. Vì khó khăn trong công việc, ông phải thay đổi việc làm, thay đổi chỗ ở nhiều lần. Mỗi lần thay đổi như thế, em Andy bị mất bạn, mất nơi nương tựa. Khi đến trường mới em lại bị bạn bè trêu chọc. Em Andy bị hụt hẫng tất cả, cứ như thế hết ngày này sang ngày khác. Cuối cùng vì quá chán nản và tuyệt vọng em đã hành động dại dột để rồi chôn chặt cuộc đời trong ngục tối.

Qua kinh nghiệm đau thương của em Andy, chúng ta thấy, nếu thương con cha mẹ hãy thương nhau, sống với nhau trong hòa thuận, tha thứ. Không gì khiến cho con cái bình an hơn là thấy cha mẹ yêu thương nhau.

Thứ hai, nếu chuyện thay đổi chỗ ở không thật sự cần thiết, chúng ta có thể chờ đến khi con lớn. Nếu cần, hy sinh dự tính của mình để đời sống con được ổn định. Nhưng quan trọng hơn hết, đừng chỉ lo nhu cầu vật chất nhưng hãy dành thì giờ chăm sóc mặt tình cảm và tâm linh của con cái. Chúa Cứu Thế dạy: “Phải đề phòng, đừng để lòng tham lôi cuốn, vì đời sống con người không cốt ở chỗ giàu có dư dật đâu!” (Phúc Âm Lu-ca 12:15, Bản Thánh Kinh Diễn Ý).


Minh Nguyên
Chương Trình Phát Thanh Tin Lành


367907 top -

Image




367913 top -

Chúa Jesus thật sự rất yêu thương bạn
Người viết: Bình đất


Theo như thường lệ, cứ mỗi trưa Chúa nhật, sau lễ thờ phuợng buổi sáng ở nhà thờ, ông mục sư cùng đứa con trai nhỏ 11 tuổi của mình sẽ đi xuống phố và phát truyền đạo đơn. Vào buổi trưa Chúa nhật hôm ấy, đến giờ hai cha con đi phát truyền đạo đơn thì ngoài trời mưa như trút nước và thật giá buốt.

Đứa con trai nhỏ mặc đồ ấm và áo mưa vào...
- "Ba ơi, con sẵn sàng rồi đây!" cậu bé nói.

Người cha hỏi:
- "Con sẵn sàng cái gì thế?"

- "Ba quên rồi sao, tới giờ mình đi ra ngoài phát truyền đạo đơn rồi."

Người cha trả lời:
- "Con à, ở ngoài trời lạnh và mưa tầm tã thế kia mà."

Cậu con trai đã làm người cha sửng sốt khi hỏi lại:
- "Nhưng ba ơi, người ta vẫn sẽ phải chết nơi hỏa ngục, mặc dù trời có mưa hay không, phải không ba?"

Người cha trả lời:
- "Con à, nhưng ba sẽ không thể ra ngoài với thời tiết thế này."

Với vẻ thất vọng, cậu con trai hỏi cha mình
- "Ba ơi, ba cho con đi một mình nghe? Đi mà ..."

Người cha ngần ngại một phút rồi trả lời:
- " Con có thể đi. Cầm lấy những truyền đạo đơn này, đi cẩn thẩn nghe con."

- "Cám ơn ba!"


Và với một xấp truyền đạo đơn trên tay, cậu bé bước ra và đi giữa cơn mưa lớn. Cậu bé 11 tuổi đi bộ dọc những con đường trên phố, đi từ nhà này qua nhà khác và trao những cuốn truyền đạo đơn nho nhỏ cho bất kỳ người nào cậu gặp trên đường.

Sau 2 tiếng đồng hồ đi bộ dưới mưa, cậu bé bị thấm nước ướt nhem và lạnh cóng, bây giờ chỉ còn lại một tấm truyền đạo đơn cuối cùng. Cậu dừng lại ở một góc đường và nhìn xem có ai đi ngang qua để đưa cho họ, nhưng đường phố hoàn toàn vắng vẻ. Rồi cậu bé cất bước về hướng căn nhà đầu tiên cậu thấy, cậu băng qua vỉa hè đến trước ngôi nhà và bấm chuông.

Cậu bấm chuông - nhưng không ai trả lời. Cậu lại bấm chuông lần nữa, rồi lần nữa... nhưng vẫn không có ai trả lời cả. Cậu bé đứng đợi, vẫn không có tiếng trả lời. Cậu bé định quay gót đi, nhưng một điều gì lại khiến cậu đứng lại. Một lần nữa, cậu lại bấm chuông liên tục và đấm vào cửa ầm ĩ.

Cậu đợi, có cái gì đó giữ cậu bé đứng đó chờ. Cậu bấm chuông lần nữa, và lần này cánh cửa từ từ mở ra. Một phụ nữ đứng tuổi trông rất buồn rầu xuất hiện trước cửa. Bà hỏi giọng nhỏ nhẹ:
- "Cậu bé, tôi có thể giúp gì không?"

Với ánh mắt sáng ngời và nụ cười rạng rỡ, cậu bé nói:
- "Thưa bà, cháu xin lỗi vì làm phiền, nhưng cháu chỉ muốn nói rằng CHÚA JESUS THẬT SỰ RẤT YÊU THƯƠNG BÀ! Cháu đến để tặng bà cuốn truyền đạo đơn cuối cùng của cháu, đây là cuốn sách nói về Chúa Jesus và tình yêu thương vĩ đại của Ngài dành cho con người."

Nói rồi cậu trao cuốn sách cho bà và xin phép đi về. Người phụ nữ nọ nói với theo:
- "Cám ơn cậu bé! Xin Chúa chúc phước lành trên cậu!"

Ngày Chúa nhật sau đó trong nhà thờ, người cha Mục sư đứng trên bục giảng, và khi buổi nhóm bắt đầu, ông hỏi:
- "Có ai trong quý vị muốn làm chứng hay muốn chia sẻ điều gì không?"

Từ từ, ở hàng ghế phía sau, một phụ nữ đứng tuổi đứng lên. Khi bà bắt đầu nói, khuôn mặt bà toát ra vẻ sáng ngời.
- "Không ai trong quý vị biết tôi. Tôi chưa bao giờ đến đây lần nào. Quý vị thấy đó, trước Chúa nhật tuần trước, tôi không phải là người tin Chúa. Chồng tôi qua đời được ít lâu, để lại mình tôi đơn độc trong cuộc đời này. Chúa nhật tuần trước, một ngày mưa tầm tã và lạnh lẽo, tôi buồn bã đến nỗi nghĩ rằng sẽ kết thúc cuộc đời mình ở đây vì tôi không còn có chút hy vọng hay ước muốn sống nào nữa. Vì thế tôi chuẩn bị sợi dây thừng và cái ghế, rồi trèo lên cầu thang trên căn gác nhà tôi.
Tôi treo dây lên trần nhà một cách cẩn thận, rồi trèo lên ghế và tròng đầu kia vào cổ. Tôi đứng trên chiếc ghế đó, cô đơn cùng cực và lòng tan nát, tôi chuẩn bị đá cái ghế đi thì đột ngột có tiếng chuông cửa làm tôi giật mình. Tôi nghĩ "Đợi một phút, người ta sẽ bỏ đi thôi." Tôi đợi và đợi - rồi tiếng chuông cửa như càng lúc càng to và liên tục, và rồi người gọi cửa còn gõ cửa rất ồn ào. Tôi lại nghĩ "Không biết ai trên đời này đi kiếm tôi? Không có ai bấm chuông nhà tôi hay đến thăm tôi từ rất lâu rồi!" Tôi tháo sợi dây thừng ra và đi ra cửa. Chuông reo inh ỏi... Khi tôi mở cửa, thật không thể tin vào mắt mình! Trước hiên nhà tôi là một cậu bé sáng sủa nhất mà tôi từng gặp, mặt cậu sáng như thiên thần! Nụ cười của cậu! Ôi, tôi không thể nào tả được cho quý vị! Và những lời cậu nói đã làm sống lại trái tim vốn đã chết của tôi, cậu nói rằng "Thưa bà, cháu chỉ đến để nói rằng Chúa Jesus thật sự rất yêu thương bà!" Rồi cậu trao cho tôi cuốn sách nhỏ mà tôi đang cầm đây.
Khi cậu bé từ biệt và ra đi dưới cơn mưa trong cái lạnh buốt giá, tôi đóng cửa lại, vào nhà và đọc từng câu trong cuốn sách này. Sau đó tôi trở vào căn gác nhỏ, tháo sợi dây thừng và cất cái ghế. Tôi không cần dùng đến chúng nữa.
Quý vị thấy đó, tôi bây giờ đã là một đứa con hạnh phúc của một vị Vua. Bởi vì sau cuốn sách có địa chỉ của quý Hội Thánh đây, nên tôi đến để gửi lời cám ơn vị thiên thần nhỏ của Chúa, người đã đến với tôi rất đúng lúc, và cứu linh hồn tôi khỏi hỏa ngục đời đời."


Lúc bấy giờ trong nhà thờ không ai cầm được nước mắt. Người cha mục sư bước xuống khỏi bục giảng, đến dãy ghế mà vị thiên thần nhỏ đang ngồi, ông dâng lời ngợi ca và tôn vinh Danh Chúa vang khắp cả nhà thờ. Ông ôm lấy cậu bé và khóc nức nở không kiềm chế được. Có lẽ chưa có Hội Thánh nào có được phút giây vinh quang như thế!

Và có thể vũ trụ này chưa từng chứng kiến người cha nào được tràn đầy tình thương và vinh dự từ con trai mình như thế, trừ một người Cha, là Đức Chúa Trời, Ngài cũng đã bằng lòng cho con trai Một của mình, là Chúa Jesus, bước vào thế giới lạnh lẽo và tối tăm này. Và Đức Chúa Trời đã nhận Chúa Jesus trở về trong niềm vui không thể nói hết được, và khi cả thiên đàng tôn vinh và ngợi khen sự vinh hiển của Vua, thì Ngài ngồi bên cạnh Con Trai yêu dấu mình trên ngai cao cả, trên hết mọi danh cao cả và quyền uy.

Có thể bạn đang đọc những dòng này là một người cũng đang đi trong sự tối tăm, lạnh lẽo và đơn độc của cuộc đời mình. Cũng có thể bạn là một Cơ đốc nhân, hoặc bạn không có nan đề nào trong cuộc sống, hoặc có thể bạn chưa biết vì Vua cao cả kia. Dù bạn trong trường hợp nào, hay dù bạn đang trong hoàn cảnh ra sao, trong nan đề thế nào, và dù là hoàn cảnh đó tồi tệ đến đâu, tôi muốn bạn biết rằng tôi đến chỉ để nói với bạn rằng "CHÚA JESUS THẬT SỰ RẤT YÊU THƯƠNG BẠN!"


Câu hỏi suy gẫm
Bạn có thật sự cảm nhận được tình yêu tuyệt diệu của Chúa dành cho riêng đời sống mình không? Có bao giờ bạn suy nghĩ nghiêm túc về trách nhiệm của mình trong việc truyền rao Danh Chúa và đặt nó là công việc cấp bách không?


Mỗi tuần một câu Kinh Thánh
Giăng 3:16
Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.


368794 top -

Chúa luôn mở lối
Người viết: Thiên Ân


Khuya một đêm nọ, Don Moen nhận được một cú điện thoại kinh hoàng. Chị vợ ông đã mất người con trai lớn của mình trong một tai nạn xe. Craig và Susan Phelps và bốn người con trai của họ đang trên đường từ Texas đến Colorado, xe tải của họ bị kẹt trong một chiếc xe tải 18 bánh. Tất cả bốn người con trai của họ đều bị văng ra khỏi xe. Craig và Susan nhận ra con họ bởi tiếng khóc.

Một đứa nằm dưới mương, đứa kia đang nằm trong chỗ ẩm ướt của vùng tuyết tan. Cạnh đó, anh nó đang nằm dưới trụ điện thoại. Tất cả đều bị thương trầm trọng. Nhưng khi Craig, vốn là bác sĩ khoa nội, đụng đến Jeremy, ông thấy nó đang nằm trong hàng rào với cái cổ đã bị gãy. Craig không thể làm gì để cứu sống Jeremy.

Khi Don nhận được tin của tấn bi kịch này một vài tiếng sau đó, ông thốt lên: "Cuộc đời tôi đã trở nên bế tắc, nhưng tôi phải lên máy bay vào sáng hôm sau để dự buổi họp đã được lên kế hoạch trong vài tuần. Mặc dầu tôi biết Craig và Susan đang đau buồn nhưng tôi không thể đến với họ cho đến ngày đưa tang."

Trong suốt chuyến bay sáng hôm đó, Chúa đã cảm động tôi viết bài hát cho họ, "Chúa sẽ mở đường, dầu có lúc dường như chẳng còn con đường nào. Ngài sẽ làm việc theo cách mà có thể chúng ta không thể nhìn thấy được. Ngài sẽ mở đường cho tôi". Bài hát dựa vào câu Kinh Thánh Êsai 43:19 "Nầy, Ta sắp làm một việc mới, việc nầy sẽ hiện ra ngay; các ngươi há chẳng biết sao? Ấy là Ta sẽ vạch một con đường trong đồng vắng, và khiến những sông chảy trong nơi sa mạc."

Bài hát có thể mang lại sự an ủi cho Craig và Susan khi mọi hi vọng dường như đã mất. Bài hát đã đụng chạm đến nỗi đau của họ với sự hi vọng và sự an ủi. Don nhận được thư của Susan với lời trích dẫn của bà trong Êsai 43:4 "Vì Ta đã coi ngươi là quí báu, đáng chuộng, và Ta đã yêu ngươi, nên Ta sẽ ban những người thế ngươi, và các dân tộc thay mạng sống ngươi."

Susan nói " Chúng ta đã thấy sự thật của câu Kinh Thánh. Khi bạn của Jeremy biết nó đã bằng lòng tiếp nhận Chúa Jesus vào đời sống trước khi chết, nhiều người bắt đầu hỏi bố mẹ mình làm sao có thể tin chắc sẽ được vào thiên đàng khi họ chết. Tai nạn đã thúc đẩy Craig và Susan vào bước đường theo Chúa cũng như chức vụ của mình. Craig bắt đầu tham gia dạy trường Chúa nhật tại nhà thờ. Susan tích cực tham gia trong ban phụ nữ, chia xẻ kinh nghiệm của mình về sự chu cấp của Chúa trong lúc đau buồn cho nhiều người.

Bà nói: "Trong ngày xảy ra tai nạn, khi bước ra khỏi xe, ngay trước khi biết con trai mình đã chết, tôi biết mình phải chọn lựa. Hoặc tôi sẽ cay đắng và giận dữ, hoặc tôi sẽ phải hoàn toàn đầu phục Chúa với bất kì điều gì Chúa cho xảy ra. Tôi đã phải quyết định nhanh chóng. Và tôi đã thấy bông trái về kết quả của sự lựa chọn đó. Nếu tôi phải lựa chọn, tôi có thể sẽ làm lại điều đó. Điều đó thật sự có giá trị cho người khác để được cứu rỗi vì cớ những gì đã xảy ra với Jeremy. "Chúa thật sự đã mở đường cho chúng tôi"

Bài hát: God will make a way
God will make a way
Where there seems to be no way
He works in ways we cannot see
He will make a way for me
He will be my guide
Hold me closely to His side
With love and strength for each new day
He will make a way He will make a way

By a roadway in the wilderness
He'll lead me
And rivers in the desert will I see
Heaven and earth will fade
But His word will still remain
He will do something new today.






Lời Việt: Chúa luôn mở lối
Chúa cùng đi với tôi trên dường đời tăm tối mịt mù.
Lạ thay ơn Chúa sâu rộng vô biên.
Ngài luôn luôn mở lối cho tôi.
Chúa là Đấng dắt chăn, giữ tôi gần mỗi bước bên Ngài.
Bằng tình yêu với năng lực tươi mới.
Ngài luôn luôn mở lối,
ngày đêm dẫn dắt tôi.

Nơi chông gai khô khan Ngài dẫn bước tôi luôn thái an.
Nơi hoang vu Chúa khiến suối reo vui tươi.
Mọi điều đời này sẽ qua, nhưng Lời Chúa mãi không thay dời.
Ngày hôm nay Ngài ban ơn đổi mới.


369193 top -

Ơn Chúa lòng ghi sâu
Người viết: Thiên Ân


Vì bài "Ơn Chúa Lòng Ghi Sâu" là một trong những bài hát Don Moen hát và được người ta biết đến nhiều nhất, do đó nhiều người nghĩ rằng Don sáng tác bài hát này, nhưng thật ra thì bài hát được Henry Smith sáng tác.

Vào năm 1978, Henry nhận được nhiều sự cảm động. Sau đó, ông tốt nghiệp trường Kinh Thánh và sớm lập gia đình, ông nhận thấy mình thật sự được đụng chạm khi nghe mục sư giảng trong 2 Côrinhtô 8:9 "Vì anh em biết ơn của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài vốn giàu, vì anh em mà tự làm nên nghèo, hầu cho bởi sự nghèo của Ngài, anh em được nên giàu".

Trong câu Kinh Thánh này Phaolô giải thích: Chúa chúng ta, Ngài vốn giàu có, vì chúng ta mà đã trở nên nghèo để chúng ta biết và nhận lấy sự cứu rỗi thật và sự giàu có vĩnh cửu mà Ngài dành cho chúng ta. Henry nhớ lại ông đã được đầy dẫy sự bình an, chìm đắm trong tình yêu diệu kì của Chúa khi nghe câu Kinh Thánh này.

Một hạt giống đã được gieo ra và đâm chồi nẩy lộc qua lời bài hát "Ơn Chúa Lòng Ghi Sâu". Tám năm sau đó, ông nhận ra bài hát đã được hát trong nhiều Hội Thánh tại Mỹ.

"Tôi nhận biết là những gì tôi đã làm là một điều hoàn toàn bình thường," Henry nói, "Nhưng việc Chúa đã đem bài hát phổ biến khắp nơi trên thế giới, mang nó vào cuộc sống của biết bao người là một điều thật phi thường. Ngài có thể chọn bất cứ ai để làm điều này. Tôi thật cảm tạ Chúa vì ở trong nhà Ngài và được dự một phần nhỏ trong những gì Ngài đang làm."

Bài hát: Give Thanks

Give thanks with
A greatful heart
Give thanks to the
Holy One
Give thanks because
He's given Jesus Christ
His Son

And now let the weak
Say I am strong
Let the poor
Say I am rich
Because of what the
Lord has done for us






Lời Việt: Ơn Chúa lòng ghi sâu
Xin dâng Cha tạo ra muôn loài
Trái tim chân thành ghi ơn Ngài
Ơn Ngài không bao giờ nhạt phai
Dù tháng năm đổi thay

Hân hoan ca ngợi Vua trên trời
Ðã ban Jêsus cho muôn loài
Muôn người ăn năn về cùng Cha
Tội lỗi xưa được tha

ÐK:
Chúa khiến những kẻ yếu, mạnh lên trong Chúa
Những kẻ khổ được giàu ơn Chúa
Jêsus yêu thương ngày đêm dìu qua sương mưa

Chính chỗ những kẻ khốn cùng được nương náu
Những kẻ vỡ lòng được yêu dấu
Trong tay Jêsus bình an chẳng vương lo âu
Dâng Cha


369512 top -

Làm chứng về Chúa

Image

LỜI CHÚA

Chúa Giê-xu nói với họ: “Hãy theo ta! Ta sẽ khiến anh em trở nên những tay thả lưới cứu người.” (Mác 1:17 – Bản Dịch Phạm Xuân)
Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất. (Công Vụ Các Sứ Đồ 1:8)

Chúa bảo Phao-lô trong khải tượng: “Con đừng sợ! Cứ truyền giảng Phúc Âm! Đừng nín lặng, vì ta ở cùng con luôn. (Công Vụ Các Sứ Đồ 18:9-10
– Bản Hiện Đại)



1. Chúa biến đổi
Khi bạn quyết định theo Chúa Giê-xu, làm môn đệ của Ngài, Ngài sẽ biến đổi bạn trở thành “tay đánh lưới người”. Những người đánh cá đi theo Chúa Giê-xu, sau một thời gian được Chúa huấn luyện, họ trở thành biết làm chứng về Ngài và dẫn dắt người khác về với Ngài.

Bạn đi theo Chúa và làm môn đệ của Chúa Giê-xu bao lâu rồi? Bạn học được những gì, Chúa có khiến bạn dạn dĩ làm chứng về Ngài chưa?



2. Chúa ban Đức Thánh Linh
Chúa biết các môn đệ không thể tự mình làm chứng nhân được. Họ cần có năng lực của Ngài. Nhờ có Đức Thánh Linh các môn đệ ra đi, làm chứng. Không phải chỉ làm chứng trong một thời gian ngắn cho một vài người ở một vài nơi, mà suốt cuộc đời làm chứng cho nhiều người và ở mọi nơi.

Khi tin Chúa, trở nên con của Ngài, bạn có Thánh Linh, vì sao bạn chưa làm chứng về Chúa? Phải chăng vì bạn chưa để Thánh Linh làm chủ và điều khiển cuộc đời bạn?



3. Chúa ở cùng
Chính Chúa Giê-xu phán Ngài sẽ ở cùng những người làm chứng về Ngài. Khi còn ở trần gian, Chúa phán với các môn đệ là những người sẽ ra đi làm chứng nhân về Ngài: “Ta ở với anh em mỗi ngày cho đến tận thế” (Ma-thi-ơ 28:20). Khi trở về thiên đàng, qua khải tượng, Chúa phán với một môn đệ đang làm chứng nhân về Ngài rằng: “Ta ở cùng con.”

Bạn không đơn độc khi nói về Tin Lành cho người khác. Có Chúa ở cùng, sao bạn sợ hãi, sao bạn im lặng, sao bạn không bắt đầu nói về Chúa?



CHIA SẺ VỀ CHÚA
Những người được Chúa cứu chuộc,

Giải phóng khỏi bàn tay thù nghịch,

Hãy nói lên ân đức của Ngài!

(Thi Thiên 107:2 - Bản Hiện Đại)




Oaktreevu

369605 top -

Ơn Lạ Lùng

Tác giả: Nguyễn Xuân Thanh Tuấn

Tôi được sinh ra và lớn lên tại Việt nam. Cha mẹ tôi là những người thờ cúng ông bà, đi chùa, ăn chay, niệm Phật. Cha mẹ làm sao thì tôi làm vậy, không biết gì.

Sau biến cố 1975, cha tôi bị đi tù cải tạo, mẹ tôi từ một người công chức ở Sài Gòn phải về quê Bến Tre lăn lộn với ruộng nương. Lúc ấy tôi khoảng 11 tuổi. Khoảng năm 1978 tới 1980, Việt Nam lâm vào cảnh đói kém lớn, thêm chiến tranh với nước Campuchia ở miền Tây. Mẹ và anh em chúng tôi thì húp cháo mỗi ngày. Là anh hai trong gia đình nên mọi sự tôi phải đương đầu, và cha tôi không biết ngày nào trở lại.

Cho đến khi tôi được 17 tuổi thì cha tôi được thả về, và cũng năm đó tôi đậu lớp 10. Bắt đầu từ đây, có gì đó thay đổi hướng nhìn của tôi. Tôi thật là thích thú khi được học về thiên văn học là một môn học nhàm chán của mọi người. Trong trường không có học sinh nào thích bàn tán với tôi về vũ trụ ngoài ông thầy dạy toán thực tập từ Sài Gòn về. Tôi đọc nhiều sách về vũ trụ, nhiều sách về thuyết tương đối... tôi hoàn toàn không mấy tán thành về thuyết Big-bang. Cuối cùng tôi thốt lên một lời mà kể cả hôm nay mẹ tôi vẫn còn nhắc "không có gì trong vũ trụ nầy là tự nhiên mà có, phải có lực tác động" Tôi bắt đầu run sợ và hình dung ra có cái gì đó thật là siêu nhiên trong vũ trụ nầy. Khi tôi tốt nghiệp lớp 12, và cũng năm đó (1988) tôi thi rớt vào trường Bách Khoa & mọi niềm hy vọng đều tiêu tan. Tôi bắt đầu chán nản cuộc đời, không còn muốn thi cử gì nữa. Tôi trở lên Sài Gòn đi học nghề điện tử và học Anh văn.

Sau biến cố 1975, gia đình tôi trở về quê, nên không còn có nhà ở Sài Gòn, nơi mà tôi đã được sinh ra. Tôi phải sống nhờ ở đậu với những người bà con bên nội, bên ngoại. Nay thì ở với người nầy, mai thì ở với người khác. Còn cha tôi sau khi được thả về cũng ở nhờ chỗ nầy chỗ nọ. Cha con tôi không có thể ở chung. Mẹ và hai em tôi ở dưới Bến Tre. Gia đình chúng tôi phân chia tứ tán. Tôi thật sự đã chán nản xã hội lúc đó, buồn tủi cho bản thân không ra gì. Đầu óc lúc nào cũng căng thẳng không biết ngày mai có gì để sinh sống. Tôi cũng có suy nghĩ về niềm tin tôn giáo, và đi chùa xin xăm.

Năm 1989, nhờ gặp lại người bạn cũ cùng trường đã giới thiệu đi luyện thi lại và tôi đậu vào trường Bưu Chính Viễn Thông. Cuộc đời ăn chơi, kêu ngạo của tôi cũng bắt đầu từ đó. Sau khi ra trường tôi lại được một công việc tại Sài Gòn. Tôi bắt đầu tập tành nhậu nhẹt, thuốc lá, cái gọi là xã giao với mọi người. Đêm về tôi vẫn trằn trọc rất khó ngủ, lòng luôn bất an. Ngày mai mình sẽ làm gì cho vừa lòng người nầy người kia. Suy nghĩ tìm những lời lẽ khôn ngoan nào mà có thể trả đũa lại với người ta. Tôi sống thật ích kỷ và dễ hờn giận. Tôi mà ghét ai thì người đó khó lòng làm hòa với tôi. Các bạn cũng được biết tôi có niềm tin theo những gì cha mẹ tôi làm. Tôi đi đến chùa Vĩnh Nghiêm để mua sách về đọc.

Tôi bỏ nhiều thời gian ra đọc nhiều sách nào Lịch Sử Phật Học, Giải luận Kinh-Thích Thanh Từ, Kim cang luận, thiền tông, chân thiền Zen. Tôi cố gắng hết sức mình để tu tâm dưỡng tánh, ngồi thiền để được giây phút bình an. Cả năm ròng rã như vậy, tôi vẫn không thể tìm cho chính mình được một phút tịnh tâm thật sự như những gì người ta chỉ dẫn trong sách. Cuộc sống cuồn cuộn trôi nhanh, đó là cuộc sống thật mà mọi người không thể chối chạy, cứ lo lắng, cứ tính toán, so sánh, buồn bã làm sao mà tôi có thể ngồi thiền để quên đi mọi sự đời! Cho đến ngày nào tôi ngã xuống, chết đi thì mới quên được sự đời. Tôi vẫn cho là mình không có duyên hay là không đạt được chánh quả, cho nên tôi lại dày công ra nghiên cứu một cách kỹ lưỡng. Tôi lại lo lắng nhiều khi biết rằng con người tôi tội lỗi đầy dẫy như thế nầy thì làm sao tu cho thành Phật được, và nếu hy vọng được làm con người kiếp sau thì càng lo sợ hơn. Chẳng lẽ đầu thai làm con thú nào đó, rồi tu cho tới chừng nào mới được siêu thoát... nhiều câu hỏi cứ làm tôi trằn trọc hằng đêm hơn. Tu thân tích đức cả đời mà chỉ một lần làm điều ác thì coi như luống công. Con người vốn là ác, tôi cố gắng sống thiện vì tôi cố gắng đè nén điều ác trong tôi. Nếu khi nào tôi lỡ quên thì điều ác lại thể hiện còn ác hơn nữa! Tôi thu thập được một số kiến thức Phật giáo, tôi lại càng kiêu ngạo hơn lên. Đi đâu gặp ai thì cũng nói về triết lý sống, dạy đời. Tôi thường đi ngang nhà thờ Đức Bà, và nhà thờ Tin Lành Sài Gòn góc đường Trần Hưng Đạo và Đề Thám, đó là khu phố quen thuộc của tôi từ lúc chào đời cho đến 5 tuổi. Nhưng tôi không gì ưa những người đi nhà thờ, và tôi có ác cảm với họ. Bởi tôi đã đọc nhiều sách lịch sử thế giới và biết được những thập tự quân tàn ác, những giáo phẩm và giáo hoàng độc tôn.

Khi tôi được công việc và được căn phòng nho nhỏ ở tận lầu năm trong một toà nhà, trên đường Điện Biên Phủ, tôi có quen một người bạn tên là Tân. Tôi có thể quên mặt Tân, dù chúng tôi chỉ là bạn chơi chơi thôi. Lý do vì anh Tân nầy là người tin Chúa. Tôi không biết anh đi nhà thờ nào. Khi gặp anh thì tôi dùng hết khả năng khôn ngoan, kiến thức đời, Phật học để truyết lý với anh, còn anh ta thì cũng cãi lý lại dữ dội lắm. Nhưng tôi không có nhớ gì hết. Tuy nhiên mỗi hành động và thái độ sống của anh ta thì tôi không quên. Tân có mời tôi đọc Kinh Thánh vài lần, nhưng tôi chẳng hiểu gì cả. Có một lần, con mèo hoang ăn vụng hết cơm của con chó nhà anh ta, anh nổi nóng, tóm cổ con mèo quăng từ lầu năm xuống đất. Một tình yêu gì đó mà anh ta nói với tôi mà bây giờ lại thể hiện qua hành động tàn nhẫn nầy thì làm sao tôi có thể chấp nhận những gì anh ta nói với tôi. Đó là lý do tôi không thể nhớ những gì anh ta thuyết lý với tôi.

Một buổi chiều nọ, anh ta rủ tôi đi dự lễ tại nhà thờ tên là Kỳ Đồng. Tôi cũng muốn đi thử xem sao, có chuyện gì trong đó. Tôi ngồi cạnh anh ta suốt buổi nói chuyện hay là giảng của người hướng dẫn, cho đến khi người đó yêu cầu mọi người phải quì xuống cầu nguyện. Tôi cũng bắt chước quì xuống giống như người ta, nhưng khi tôi vừa quì xuống thì anh ta ngăn tôi lại và nói tôi không được quì. Tôi tức như điên lên vì anh ta là ai mà anh ta không cho phép tôi quì xuống!

Kể từ đó, lòng hận ghét của tôi đối với những người tin Chúa lại càng cao hơn. Tôi căm ghét họ, tôi hát những bài ca nhạo báng Chúa. Lời nói của tôi càng cộc cằn đối với những người tin Chúa. Tôi sử dụng lời nói cho thật đay nghiến, thật châm chích.

Cha tôi ở trọ với một người bạn tù cải tạo. Tôi thường đến chơi cùng với hai cô em. Gia đình nầy là những người Công Giáo. Vì vị nể, họ cho cha tôi ở trọ nên tôi không có thái độ chống đối nào hết. Ngược lại hai bác và các cô em rất mến tôi. Có một lần, tôi được dịp hỏi những câu châm chích với cô em làm cho cô cúi đầu xụ mặt. Lúc đó tôi mới hả dạ. Rồi có một lần nọ, tôi đến chơi thì cả nhà bác đang xem một bộ phim, tôi không biết phim gì. Tôi cho là một bộ phim thời La Mã. Tôi cũng ngồi xem chơi, một lúc sau, tất cả mọi người bỏ đi đâu hết chỉ còn tôi ngồi một mình xem chăm chú bộ phim đó. Tôi thấy có một người trông rất nhân từ mà bị người ta đánh đập dã man rồi bị đóng lên cây thập tự giá. Bộ phim nầy nói bằng tiếng Anh, nên tôi không hiểu gì. Những hình ảnh đó làm tôi xúc động.

Cuộc sống cứ trôi dần, tôi cứ ôm hận ghét những người đi nhà thờ. Một đêm nọ, trong mùa lễ Giáng Sinh của dân Sài Gòn thật nhộn nhịp, người ta ăn mặt thật đẹp đi nhà thờ, còn tôi đứng một mình trên lan can lầu nhìn ra đường phố với những ánh đèn sáng rực. Tôi cảm thấy buồn cho cuộc đời mình. Tôi suy nghĩ không biết có Chúa thật không. Đang suy nghĩ vẫn vơ thì tôi thấy một ánh sáng rất lạ xẹt ngang qua trước mặt tôi trên nền trời đầy sao. Tôi nghĩ là sao băng. Nhưng lòng tôi vẫn không nguôi căm ghét những người đi nhà thờ. Khi tôi chỉ còn vài tháng nữa thì được đi Mỹ theo diện H.O. Tôi ra Vũng Tàu thăm cô Hai của tôi, trên núi có bức tượng của Chúa giang tay thật lớn. Tôi nhạo báng bằng cách đứng ở dưới chân núi, nhờ cha tôi chụp hình lên, và tôi đứng chàn hảng rồi giang tay ra giống Chúa. Tấm hình nầy tôi vẫn còn giữ. Tôi căm ghét người đi nhà thờ, tôi nhạo báng Chúa... Khuôn mặt của tôi thì khó đăm đăm. Cũng trong thời gian đó, tôi cũng đã hoàn tất đọc các sách về Phật Giáo. Tôi thật là bất ngờ khi thấy những người tu theo đạo Phật không làm đúng như những gì ông Phật chỉ dẫn. Phật Thích Ca đâu có bảo con người tạc tượng để thờ lạy đâu? Phật Thích Ca chỉ ra con đường là ăn hiền, ở lành, lánh dữ thì họa chăng mai sau chết để được nhẹ tội. Phật Thích Ca lúc lâm chung đâu có nói Ngài có quyền cứu chuộc con người, đâu có quyền ban phước hay giáng họa. Sự sống và sự chết vẫn thuộc quyền ông Trời. Tôi không nói lên điều nầy để chê bai hay khích bác. Tôi cũng công nhận rằng Thái Tử Tất Đạt Đa là một con người đầy lòng nhân hậu, cho nên ông mới lìa bỏ giàu sang mà đi tìm con đường cứu độ con người. Tôi không tìm thấy hy vọng nào nơi truyết lý Phật giáo, vì tôi biết chính con người của tôi là trông bề ngoài có vẻ hiền lành lắm, nhưng tôi là một con người đầy dẫy tội lỗi chất chứa bên trong: hận thù, ghen ghét, dâm dục, ích kỷ, gian dối, tham lam, kiêu ngạo, cãi lẫy, tranh đua, nhiều thứ khác nữa thì làm sao tôi có thể hy vọng kiếp sau được làm con người, huống gì muốn thành Phật! Có ai chắc rằng mình tu được một kiếp làm người thật tốt mà mình không có phạm một tội lỗi nào? Phải tu cho đến mười kiếp thật tốt thì mới được thành Phật mà về cõi Niết Bàn. Thật là một con đường không có ai có thể đi qua. Bạn nói rằng bạn là người tu thiền vài chục năm, thì làm sao bạn biết chắc rằng mình được lên Niết Bàn không? Tôi thất vọng cho những gì mình dày công tìm kiếm.

Khi tôi được lên chiếc máy bay lìa quê hương vào năm 1995, để đến Hoa kỳ, tôi được ngồi ngay cửa sổ. Tôi nhìn ra thấy cánh máy bay đang cong vút lên để chở hàng tấn lên trên không. Tôi bắt đầu run sợ. Tôi nói thầm trong bụng: "Thượng Đế ơi! Nếu Ngài thật hiện hữu xin giữ dùm cái cánh máy bay nầy cho tôi đến Mỹ bình an." Chúng tôi đến Mỹ được bình an, chuyến bay chỉ ghé Hồng Kông 2 giờ mà thôi.

Đặt chân đến phi trường Sea-Tac WA, lòng tôi thật sung sướng, vui mừng vì tôi biết với đất nước tự do dân chủ nầy tôi sẽ có thực hiện được nhiều ước mơ. Một tháng sau đó, tôi phải đi vào downtown Seattle để làm thủ tục giấy tờ. Tiếng Mỹ nói chữ được chữ không, người Việt thì thật là khó tìm, tôi ngồi trên xe bus mà lòng thật sợ phập phồng không biết mình có nhớ chỗ xuống xe không. Cho đến khi tôi trở ra trạm xe bus để về nhà, chỉ có một mình tôi và đang suy nghĩ vẫn vơ. Tôi hoàn toàn quên hẳn đi mình đã cầu xin điều gì trên máy bay. Tôi nhìn xuống đất thấy một mãnh giấy nhỏ khá đẹp và nhặt lên để xem. Tôi thấy một dòng chữ thật to, viết bằng tiếng Anh "Jesus died for you and He is the brigde to let you go to Heaven" tạm dịch là 'Giê-xu đã chết thay cho bạn và Ngài là nhịp cầu để dẫn bạn vào Thiên Đàng" Tôi vừa ngạc nhiên vừa xúc động. Tôi chỉ nói wow, có thiệt vậy sao? Đơn giản vậy sao? Tôi lại thắc mắc: Jesus là ai nhỉ? Tôi suy nghĩ trong Kinh Thánh chắc sẽ có nói đến người nầy. Tôi ước thầm trong bụng nếu mình có được quyển Kinh Thánh bằng tiếng Việt để đọc thử xem. Lúc đó, tôi nghĩ điều mình ao ước có lẽ viễn vông vì sách chữ tiếng Việt ở xứ nầy không dễ gì tìm. Ai sẽ cho mình Kinh Thánh, và tìm mua ở đâu. Nhà thờ Việt Nam có ở đây không? Người Việt ở Seattle đông đảo, có chợ Việt Nam. Tuy nhiên đối với tôi là một người mới đến Mỹ chỉ một tháng và đang lang thang đi trong downtown Seattle thì thật là xa lạ.

Có hai người đàn ông Mỹ đến nhà tôi trong tuần đó. Họ là những người thuộc nhà thờ Catholic làm thiện nguyện, đi giúp đỡ những người nghèo. Tôi xin họ nếu các ông có Kinh Thánh bằng tiếng Việt thì cho tôi một quyển. Hai người đó nhìn nhau không nói gì cả, rồi họ chào cả nhà ra về rồi không trở lại. Tôi tự hỏi không lẽ mình hỏi điều ấy xúc phạm đến họ? Rồi một tuần sau, cũng có hai người đàn ông Mỹ khác đến gõ cửa nhà tôi. Lần nầy, hai người nầy không nói gì về những sự giúp đỡ giống hai người trước. Họ xưng là Jehova Witnesses. Tôi mời họ vào nhà, tôi chỉ hiểu khoản 20% tiếng Mỹ nên không hiểu hết những gì họ đang nói cho tôi. Cuối cùng, họ hỏi tôi có cần Kinh Thánh không, tôi trả lời yes, nhưng mà bằng tiếng Việt. Họ đưa cho tôi một quyển Kinh Thánh bằng tiếng Việt dầy cộm của một Hội thánh Tin Lành nào đó.

Tối hôm ấy, tôi mở Kinh Thánh ra đọc, nhưng không hiểu gì hết. Cuối cùng tôi nói: " Thượng Đế ơi! Nếu Ngài có thật thì cho tôi được hiểu quyển sách nầy" Tôi không nhớ ngay lúc đó hay là ngày hôm sau tôi bắt đầu đọc từ trang sách đầu tiên và bắt đầu hiểu và cảm thấy thật hứng thú. Tôi tiếp tục đọc và cố gắng đọc gần một năm. Thật ra tôi chỉ đọc vài lần trong tuần mà thôi, vì tôi còn phải lo việc học ở trường. Trong khoảng thời gian nầy, hai người đàn ông Jehova Witness mỗi tuần đến nhà tôi để thảo luận Kinh Thánh. Tôi chỉ muốn trau dồi tiếng Anh là chính yếu. Có những lúc tôi không muốn tiếp chuyện với họ bằng cách nói dối là không có nhà hoặc bận việc. Cũng trong thời gian đó, có nhiều người từ các giáo phái khác đến nhà tôi để giảng đạo, nào là Mormon, Baptist, Catholic Tôi ít khi muốn gặp họ vì con người của tôi thật là cứng cỏi.

Khi tôi vào học ở trường college, gặp những người bạn là những người tin Chúa. Họ mời tôi đi nhóm học Kinh Thánh. Mặc dầu tôi đã hiểu Lời trong Kinh Thánh, có niềm tin nơi Chúa Trời, nhưng tôi vẫn không có thể dứt bỏ được con người cũ của tôi. Nghe tới chuyện mời đi nhóm là bực mình rồi. Tôi muốn có một niềm tin vững chắc, nhưng thật là bối rối khi thấy đất Mỹ nầy có rất nhiều giáo phái. Tôi như đang đứng ở một ngã năm hay ngã sáu, không biết đường nào để đi. Tôi thầm nguyện : "Nếu có thể được, xin Chúa hãy dẫn tôi đến một Hội Thánh nào đó theo ý Ngài" Rồi một buổi chiều mùa hè 1996, khi tôi ở trường, trên đường đi ra bãi đậu xe để về nhà, tôi gặp anh bạn Việt nam mời tôi đi nhóm, chúng tôi qua lại đôi lời cảm thấy thích hợp, và chúng tôi ngồi xuống bãi cỏ để trò chuyện thêm và nói về quyền năng cùng phép lạ của Đức Chúa Trời cho đến lúc mặt trời lặn sau núi. Lần nầy, tôi nhận lời anh ta để đến nhóm Yên Ủi tối thứ Sáu. Tôi nghĩ mình cũng nên nhập bọn cho cùng hướng với họ, vì tôi biết rằng trong nhà thờ thường thì có những cô gái dễ thương. Ngoài mục đích tôi muốn biết Chúa, thì cũng muốn tìm hiểu các cô gái nữa.

Khi đến nhóm, trong lúc mọi người cầm tay nhau cầu nguyện thì có một bạn trẻ hỏi tôi: "anh có muốn tiếp nhận Chúa Giê-xu không?" Tôi nghĩ: "ừ, mình thử xem sao", tôi đồng ý. Khi tôi bắt đầu mở miệng cầu nguyện tin nhận Cứu Chúa Giê-xu thì cảm nhận được nước mắt nóng hổi đang dâng trào lên đôi mắt tôi. Sau khi nói xong, lòng tôi sao cảm thấy nhẹ bỗng, giống như có người đến vác thế cho tôi bao lúa nặng trĩu đang lúc tôi khó nhọc mang nó đi trên con đường xa. Sáng Chúa Nhật kế đến, tôi lái xe đến nhà thờ Thiên Ân theo địa chỉ. Trước đó, cũng một người bạn trẻ rũ tôi đi nhà thờ nầy. Anh ta sống bên South West Seattle, mà sẵn lòng qua bên vùng Rainier để đón tôi, lúc đó tôi nói "No".

Tôi thật ngỡ ngàng vì toàn là những người lạ. Sau buổi nhóm, Mục Sư Trang mời tôi vào phòng cầu nguyện. Nước mắt tôi lại trào ra không phải vì đau khổ hay tủi nhục, nhưng mà là những dòng lệ sung sướng thật. Tôi vui mừng lắm, vì biết được giờ đây có Chúa Giê-xu dẫn dắt tôi lên thiên đàng như lời Ngài đã hứa:
"Hễ ai tin Ta thì được nhận sự sống đời ai tin Ta thì tin Đấng sai Ta đến". Mừng vì tôi đã hiểu được sự cứu rỗi, sự sống đời đời không đến bởi sự cố gắng tu thân, ép xác làm điều thiện của tôi, mà chỉ nhờ vào tình yêu và tha thứ của Chúa Giê-xu. Cứu Chúa Giê-xu là Chân lý vĩnh hằng.

Các bạn biết không, sự vui mừng đó không thể kiềm chế tôi được, tôi trở về nhà sau giờ lễ, tôi gọi ba má tôi ra và nói: "Ba má ơi! Con đã tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Chúa của đời con rồi! Mục Sư đã cầu nguyện cho con. Con có sự sống đời đời rồi!" Như là một tiếng sét đánh vào căn nhà tôi, từ hôm đó, ba má tôi đối xử tôi như là một kẻ phản đạo ông bà. Tôi đã đón nhận những lời lẽ đau xót thấu tim. Nhưng tôi không thể xa rời tình yêu của Chúa đã dành cho tôi. Với lòng quyết tâm, tôi sẵn sàng trả mọi giá để giữ vững miềm tin, để không lìa bỏ Cứu Chúa Giê-xu, vì Ngài là nguồn sự sống của tôi. Tôi muốn có sự sống bình an sung mãn của Ngài. Vâng, tôi đã có sự sống thật đó. Với tình yêu và sự sống của Chúa trong tôi, tôi sẵn lòng làm các việc lành, tôi ao ước thực hiện các công tác giúp đỡ anh em khác trong sự an vui thỏa lòng.

Bạn ơi! Dù bạn là người có nhiều kiến thức thâm sâu, bạn là người tu chánh thiện, bạn là người hiếu kính cha mẹ, ăn ở hiền lành nhất, nhân từ giúp đỡ kẻ nghèo khó... & dù bạn làm những gì tốt nhất của đời nầy, thì điều ấy không đủ điều kiện để bạn nhận được sự sống vĩnh hằng. Rồi bạn cũng sẽ chết mất đời đời, nếu bạn không chấp nhận sự sống của Chúa. "Ai không tin Chúa Giê-xu thì không có sự sống đâu". Không mời Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa của đời mình, bạn sẽ không được tha thứ tội lỗi, không có sự sống vĩnh hằng, và mọi công lao khó nhọc của bạn trên đời nầy là vô nghĩa.

Người ta có thể cho bạn một triết lý để sống, cho bạn luân lý, giáo lý... nhưng họ không thể cho bạn sự sống vĩnh hằng Thiên Thượng của Đấng Tạo Hóa vì họ cũng không có. Nếu bạn hỏi: "làm sao biết có một Đấng Tạo Hóa sống?" Bạn thân mến, nếu cha mẹ tôi là những người chết trước khi có tôi thì tôi không thể có mặt trên cuộc đời nầy. Cha mẹ tôi thật sống thì mới sinh tôi ra sống. Đức Chúa Trời thật sống thì mới tạo được muôn vật sống. Chúa Giê-xu phán: "Ta là đường đi, là lẽ thật, là sự sống. Không bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha".

Tôi hy vọng rằng bạn tiếp nhận món quà quí giá nầy. Đừng để cơ hội qua đi e khó tìm lại được. Nếu bạn bằng lòng đón nhận sự sống vĩnh hằng, thì hãy mạnh dạn thành tâm thưa với Chúa như sau:
Kính thưa Đức Chúa Trời Toàn Năng Hằng Sống, hôm nay con biết con là kẻ có tội, con xin chấp nhận tình yêu của Ngài và mời Chúa Cứu Thế Giê-xu làm Chúa của cuộc đời con. Cầu xin Chúa tha thứ mọi tội lỗi gian ác trong con, xin Ngài rửa sạch tội lỗi con và làm cho con được trong sạch tâm thần. Xin Chúa ghi tên con vào sách sự sống của Ngài trên thiên đàng. Cầu xin Thánh Linh của Chúa hướng dẫn cuộc đời con từ hôm nay. Con vui mừng cầu xin trong danh của Ngài là Giê-xu, A-men.

Cảm ơn quí vị và các bạn.

369921 top -
Từ "Hát Cho Đời" Đến "Hát Dâng Trời"

Tác giả: Kiều Chinh


Tôi sinh ra và lớn lên tại Campuchia. Khi chiến tranh xảy ra, gia đình chúng tôi đã thoát được nạn lớn của chiến tranh qua sự giúp đỡ bằng một chuyến bay của chính hãng hàng không nội địa do ông dượng tôi làm phó giám đốc. Khi sống tại đất nước này, gia đình chúng tôi thuộc vào tầng lớp khá “có máu mặt”, dòng họ bên nội tôi là hãng dầu cù là Miến Điện. Thật không ai có thể tính trước được ngày mai của mình. Với đời sống sung túc, ba tôi một người làm cho hãng Mỹ, ông là một kiến trúc sư có tài, những tòa nhà lúc đó (1962), theo như mẹ tôi kể lại, phần lớn là do ông vẽ. Mẹ tôi là người giỏi may vá, bà chủ của khoảng 10 thợ may, đồ bỏ mối ở các chợ Campuchia. Trong ký ức tôi vẫn nhớ mãi một cảnh sống thật sung túc của gia đình lúc đó. Ba má tôi hàng ngày vẫn âm thầm gửi gạo nuôi lính ở Việt Nam. Cho đến khi đất nước Campuchia biến động lớn bởi sự lật đổ chính quyền, lúc đó vua Xihanuc bị lật đổ. Gia đình tôi phải rời khỏi Campuchia “bỏ của chạy lấy người”, vì tình hình nguy hiểm cho người Việt Nam sống ở Campuchia lúc đó. Chúng tôi chỉ kịp mang 2 bao tiền (bao đựng gạo) và 2 cây vàng. Vì tiền Campuchia lúc đó được chứng nhận của Thụy Sĩ rất có giá trị, nhưng số tiền đó đã trở nên vô giá trị khi chính quyền “pôn pốt diệt chủng” lên cầm quyền. Gia đình chúng tôi trắng tay.

Về Việt Nam năm 1970, khi tôi mới 7 tuổi, nhìn đời với cặp mắt hồn nhiên, đơn giản, lòng rất vui mừng vì nghe Việt Nam rất đẹp, rất vui, có cải lương..., một bức tranh đẹp về đất nước mình hiện ra. Tôi chỉ biết cuộc sống thật đơn giản, khi tôi được đi học, được vui đùa với đám bạn. Trong khi ba mẹ tôi đang phải vật lộn với cuộc sống mới. Với số tiền vỏn vẹn 2 cây vàng lúc đó, chúng tôi chẳng mua lấy nổi 1 căn nhà. Bà cô ở Việt Nam, chị họ của ba tôi bên nội đã kêu chúng tôi về trú ngụ trong căn nhà thật lớn, đó là ngôi biệt thự ở đường Nguyễn Kim hiện nay. Gia đình chúng tôi làm lại từ đầu cho cuộc sống mới, má tôi lại bán vải ở chợ lớn, ba tôi vào làm kiến trúc cho sở công an thành phố. Mọi chuyện tưởng chừng êm đẹp, biến cố lại đến, khi cách mạng giải phóng năm 1975, toàn bộ các sạp vải của gia đình từ Sai Gòn đến chợ lớn đều bị đánh tan nát, ba tôi bị bắt đi học cải tạo, gia đình lại lâm vào cảnh khủng hoảng. Cho đến năm 1978, tôi đậu vào trường trung cấp nhạc của đoàn ca nhạc Bông Sen tổ chức thi tuyển. Với 4000 thí sinh dự thi, tôi đã được tuyển chọn vào hàng thứ 7 của tổng 24 thí sinh ca và 24 thí sinh múa. Không bao giờ tôi nghĩ rằng mình sẽ đi theo âm nhạc, mặc dầu tôi là học sinh cấp II và III của trường Hùng Vương. Lúc đó, tôi luôn là người hát sau khi chào cờ cho cả trường nghe mỗi đầu tuần, tôi luôn là người được may mắn trong các kỳ thi tuyển, ai cũng nói tôi may mắn, tiếng bình dân gọi là “số hên”.

Tôi đã được đào tạo 4 năm, sau khi tốt nghiệp, tôi có cơ hội đi lưu diễn một chuyến Đông Âu trong nửa năm (lúc đó chỉ đi những nước Xã Hội Chủ Nghĩa như Đức, Cuba, Tiệp, Bungari, Liên Xô, Lào...). Tôi lại “được hên” khi chỉ mới 21 tuổi, tôi là diễn viên trẻ nhất của những chuyến lưu diễn trong đoàn ca nhạc nhẹ Thành Phố. Lúc đó, chỉ có đoàn ca nhạc nhẹ là nổi tiếng ở Việt Nam. Những lần về, đoàn đã biểu diễn báo cáo lại cho thành phố với những đêm mà mọi người phải xếp hàng mua vé, thậm chí vé chợ đen từ trước Nhà hát Thành Phố kéo dài đến đường Đồng Khởi hiện nay. Tôi đã được “ông trời thương xót” khi được nếm trải đủ mùi hương của cuộc sống đầy danh vọng, vinh quang, tất nhiên đôi khi cũng xen lẫn nước mắt của người diễn viên ca nhạc. Tôi được hoạt động trong đoàn nhạc có tiếng, chuyên đi lưu diễn ngoài nước. Về đến nhà, tôi lại tất bật với những chuyến lưu diễn miền Trung, miền Tây, miền Bắc, bỏ đứa con gái nhỏ cho bà ngoại chăm lo. Tôi chỉ biết dùng tiếng hát cho đời, với số tiền ít ỏi của bao cấp thời đó cho ca sĩ hạng A như tôi chỉ đủ để nuôi bệnh cho đứa con gái ốm yếu của tôi, là bé Mộng Tuyền mà tôi yêu thương nhất trong đời tôi lúc đó vì cháu chỉ có ngoại, cha không có (người đó có cũng như không).

Đến năm 1989, tôi rời khỏi đoàn ca nhạc với biết bao tương lai mời gọi, quyết định trở về bên con gái, đưa gia đình ra Vũng Tàu. Qua 2 năm làm việc cho khách sạn Rex ở Vũng Tàu, tôi đã gặp phân nửa của mình. Lúc đó, tôi chỉ biết lên chùa hằng ngày để xin trời phật, có lẽ tôi đã xin “động lòng trời” nên ông Trời đã cho tôi gặp người đàn ông mà tôi nghĩ do “ý Trời”. Mọi cuộc gặp thật có một không hai, nếu không có phút giây ngắn ngủi của chiều thứ hai (chiều nghĩ dành cho ca sĩ), với cây đàn guitar, tôi ngồi trên ban công của khách sạn tôi đang ở, “ anh ấy” lái chiếc xe zip. Chúng tôi gặp nhau vài tháng, tôi theo “tiếng gọi trái tim” quay trở về thành phố. Theo lời mời của những tụ đểm tại thành phố, tôi hát với tư cách độc lập và không lệ thuộc vào đoàn nhà nước. Chúng tôi tâm đầu ý hợp, tôi đã yêu người đàn ông này và dám bỏ lại tất cả những mối tình rất “tương lai” của mình, những tiến sĩ, thương gia tầm cỡ có thế lực, mang lại cho tôi cuộc sống êm ấm, sung sướng nơi xứ người. Tôi chọn anh chỉ vì lúc đó tôi thấy anh là người giản dị, khỏe mạnh, vui tươi và đặc biệt là có hiếu. Anh luôn kể về mẹ của anh, bà luôn có niềm khao khát có một cô con dâu biết yêu mẹ chồng và ở gần bà, nhưng điều ngạc nhiên là anh không phải con ruột của bà. Cảm ơn Chúa, điều mà bí mật tưởng chừng như sống để bụng chết mang theo của anh, đã được công khai một cách bình thường sau khi anh tin Chúa. Trước đây, gia đình chồng tôi xem điều này là một bí mật lớn không được tiết lộ ra.

Chúng tôi lấy nhau có một đứa con trai là cháu Hải Đăng. Với cuộc sống mới, đêm tôi đi hát, ngày anh đi làm, chúng tôi cùng nhau lo cho tương lai, chúng tôi có tiền dành dụm, mặc dầu vẫn lo cấp dưỡng cho hai bên cha mẹ suốt từ đó đến nay. Chúng tôi đã từng tranh chiến, xung đột nhau vì chữ hiếu, điều mà khiến tôi đã chọn anh. Chữ hiếu đã quay lại như một bi kịch khi chúng tôi sống chung với nhau. Có những lần tưởng chừng chúng tôi sẽ chia tay nhau vì tôi và anh đều xem trọng chữ hiếu. Có lẽ Chúa đã thương xót tôi khi tôi chưa biết Ngài là ai. Chúng tôi cùng nhau đi rước hình tượng về thờ lạy, cái gì cũng lạy, có bao nhiêu hình lạy hết bấy nhiêu, bao nhiêu thầy bói nổi tiếng tôi cũng duyệt, tôi tin vận mệnh của mình đã được bày tỏ qua một ông thầy, bà già, bà bóng..., nói ngọng nghẹo như con nít. Thât đáng sợ!

Tạ ơn Chúa, khi có mang cháu Hải Đăng, tôi rời khỏi lĩnh vực ca nhạc, về Củ Chi ở, làm mẹ, làm vợ, với niềm khao khát là đừng ai nhận ra tôi. Tôi có thể ngồi ăn ở bất cứ hang quán nào, đi xem phim, đi chơi mà không ai nhận ra. Điều đó phải trả giá bằng 10 năm, tôi mới được thế gian quên lãng. Tôi đi chợ phải đội nón lá lụp xụp, vậy mà có khi vẫn bị nhận ra qua cái mụt ruồi trên khóe miệng. Nghỉ hát được 16 năm, vậy mà mới đây, khi đã tin Chúa, có người đã nhận ra tôi khi đi may áo dài. Tôi có cớ khoe Chúa ra.

Với cuộc sống giản đơn, tôi chọn thể thao làm giải trí, tôi chơi cầu lông, tôi luyện tập mà say mê đến độ thi đấu và có giải với những lần hãng báo Times tổ chức. Đồng thời, tôi được chọn vào làm hãng Nexus của Mỹ với chức danh giám đốc tiếp thị của hãng bán các loại cầu giá trị hàng triệu đô la do Mỹ bán ra các nước. Tôi được học những bài học khi làm việc cho hãng Mỹ với những áp lực của các hợp đồng lớn mà tôi phải đối phó như một người đại diện, đối diện với khách hàng, những nan đề xảy ra đòi hỏi sự căng thẳng ngày đêm vì công việc. Tôi nghỉ làm, chọn lấy việc nội trợ cho thanh thản đầu óc, tôi đi công viên Lê Văn Tám tập đi bộ mỗi sáng. Tôi gặp chú Hai Ve là bạn của ba tôi từ bên Campuchia lúc tôi chỉ mới 3 tuổi, tôi nghe ông kể là khổ lắm, gia đình ông lâm vào cảnh túng quẫn đến độ định bán nhà để trả nợ. Trong thời gian chơi thể thao, tôi đã gặp người bạn gái là cô Hương mẹ Tô ở điểm nhóm Ngũ tuần, chị luôn nói về Chúa với tôi. Khi đến nhà, thấy tôi thờ hình tượng, chị nói “đây là đất sét do con người nắn ra”, tôi chống đối và nói “Nếu muốn giữ tình bạn, xin đừng nói đến tôn giáo, ai đã từng chết đi sống lại đâu mà biết có Chúa”. Tôi luôn đi đánh cầu với chị, những trận đấu lớn, đi khắp các sân trong thành phố, nơi đâu ôi cũng vát vợt đi. Chị là người đứng lưới hợp với tôi nhất. Đến khi chúng tôi chơi với nhau được 2 năm thì chị phát hiện ra khối u ác tính nơi cổ. Tôi rất thương chị, những lần chị khỏe mạnh tôi lại đi đánh cầu với chị. Có những lần đứng trước nhà chị có buổi nhóm, chị đã năn nỉ tôi vào nghe thôi chứ không làm gì đâu, nhưng tôi nhất định không vào tuy tôi rấy quý gia đình chị. Tôi thường tự nghỉ sao có những gia đình hiền lành, thật thà, tốt bụng với tôi như vậy. Tôi chơi thân nhưng nhất định không nghe chị, vì đã có người nói vào tai tôi là ”Bọn Tin Lành gì đó nó dụ người ghê lắm, đừng có nghe, nghe là dính”. Khi tôi đã tin Chúa thì chị đã về với Chúa trong thanh thản. Chúa ơi, con biết ơn Ngài.

Dù cứng lòng và kêu ngạo, Chúa vẫn thương xót, Ngài có chương trình tốt lành cho con, cho gia đình con được cứu, Chúa đã không bỏ con trong lầm lạc. Tôi trở lại việc đi bộ trong công viên mỗi sang vì do thi đấu nhiều tôi đã bị đau khớp tay, không thể cầm vợt tiếp tục. Ý Chúa! Tôi cùng má tôi đi tập mỗi sáng ở công viên với trạng thái tạm dừng để bình phục trong đầu. Tôi đã gặp lại chú Hai Ve nhưng một chú Hai Ve khỏe mạnh, vui tươi, hoạt bát, yêu đời đã biểu hiện từ chú.Tôi rất ngạc nhiên khi nghe chú khoe về gia đình chú, về người thân chú và nhất là người vợ là người đàn bà khó chịu, ít cười, ít chịu tiếp xúc với ai. Nay như một phép màu, tôi đến thăm gia đình chú thím ở tiệm may áo vest tại nhà Lý Chính Thắng. Tôi đã đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi thấy sự thay đổi, mà điều tôi thích nhất và tò mò nhất là sự thay đổi từ thái độ bi quan, tuyệt vọng của gia đình chú nay thay vào là một gia đình có sự sống. Chú nói với tôi :”Nhờ có Chúa đó”. Tôi nghe xong thật lòng đã nghĩ để hỏi Chúa ở đâu chỉ cho tôi đến xem. Tạ ơn Chúa, tôi đã gọi điện thoại tự đề nghị chú đưa tôi đến điểm nhóm nơi gọi là “Hội thánh gì đó”
Buổi sáng cách đây hơn 4 năm gia đình tôi đã chịu thánh lễ Báp Têm ngày 30-04-2004. Tôi đã gọi điện thoại cho chú Ve, nhờ chú chỉ đường đến Hội Thánh Chúa. Khi tôi bước vào từ trên xe hơi xuống, cả nhà tôi nghe ca hát, tôi thấy mọi người ca hát vui tươi, những bài hát lạ, nhạc và đàn không hòa với nhau, hơi lung tung với con mắt nghiệp vụ. Nhưng tôi lắng nghe với tấm lòng hạ mình, để xem họ hát cái gì lạ quá. Cám ơn Chúa là tôi đã rớt nước mắt trước lời bài hát, sao có cái gì đó nó nhẹ nhàng mà thắm thía vào sâu trong hồn tôi, tôi đã bị khuất phục từ Chúa. Cả gia đình tôi lên tiếp nhận Chúa. Với đôi mắt đầy nước mắt, ai đó đã cầm mảnh khăn giấy nhét vào tay tôi. Tôi biết ơn Chúa vì tín đồ của Chúa bày tỏ tình yêu thương qua một cử chỉ nhỏ nhưng đáng nhớ. Tôi tự hỏi sao thế gian này còn có những người dễ mến, dễ thương và tốt bụng vậy. Thật không hiểu sao tôi lại thấy có điều gì đó khác lạ với thế gian mà tôi gặp qua con người, họ cũng tốt với tôi, nhưng ở đây tôi thấy lạ qua con người đến nơi nầy.

Tôi đã tự điện thoại gọi chú Ve để chỉ cho gia đình biết lịch sinh hoạt, khi nào đến, khi nào họp mặt... Chúa đã bày tỏ cho tôi qua giấc mơ lạ lùng, khi bước đến điểm nhóm. Tôi không để ý đến chung quanh, tôi cũng không kịp nhìn số nhà, bảng hiệu trước nhà của điểm nhóm. Vậy mà tối hôm sau, Chúa đã cho tôi thấy rõ qua giấc mơ từ bảng hiệu đến cảnh nhà khi tôi quay lại nhóm ngày thứ năm của phụ nữ. Và trong giấc mơ, tôi thấy có ai trao cho tôi 3 bông hoa hồng lớn như cái tô múc canh, mỗi hoa một màu, cộng với những bó hoa nhỏ khác. Những người nghe giải thích với tôi, ba bông hoa tượng trưng cho ba Ngôi Đức Chúa Trời hiệp một, tôi thich lắm. Và đến bây giờ trong trí tôi vẫn nhớ rõ giấc mơ đó như một điểm son trong bước đường theo Chúa. Đúng như lời một bài hát đã viết. :”Nếu lấy cây rừng làm bút và mượn bầu trời làm giấy cũng không viết ra hết những ơn phước Chúa ban”.

Dù đến với Chúa mới 4 năm ngắn ngủi, nhưng Chúa đã ban cho tôi kinh nghiệm rất nhiều từ tình yêu của Chúa dành cho mình, trong đó có những bài học ngọt ngào, nhưng cũng có những bài học khá đắng mà tôi đã tập nuốt tập nhai chỉ vì tôi biết ơn Chúa và bắt đầu yêu Chúa.

Ngồi viết lại những dòng này như một lời làm chứng sống bằng chính tôi, tôi thật biết ơn Chúa vô vàn, không kể hết, hay nói đúng hơn “Cảm ơn Đức Chúa Trời vì sự ban cho của Ngài không xiết kể” IICô 9:15.

Qua 4 năm tin và nhận Chúa làm Chúa, làm chủ cuộc đời mình, tôi khát khao học biết về Chúa, lời của Chúa thật có nhiều điều mà tôi chưa hiểu. Tôi thường nghe hãy cầu nguyện để Đức Chúa Trời soi dẫn, nhưng tôi cảm thấy tôi chưa được điều đó, tôi chưa được soi dẫn để hiểu một cách chính xác lời của Chúa nếu như tôi không được học, không được sự giúp đỡ và dạy dỗ của những bậc Thầy về những khía cạnh khác trong thần học từ Chúa. Cảm ơn Chúa, khi được tham gia lớp cử nhân thần học do viện thần học Tin Lành Báp Tít tổ chức, tôi ngày càng hiểu mình còn nhiều thiếu kém, còn nhiều điều cần được chỉ dạy. Tôi tự nghĩ khi yêu ai, mình phải biết rõ người mình yêu, biết ý của người đó, bản chất, thái độ...

Và tôi nghĩ khi yêu Chúa, qua 4 năm học, tôi sẽ biết được Chúa ngày càng rõ ràng hơn, học được những điều mà tôi cần được thay đổi để ngày càng giống Chúa hơn. Vì Chúa là Thánh nên tôi phải nên Thánh mỗi ngày để xứng đáng là con, là Thánh đồ như ý Chúa được nên. Halêlugia.

Tôi đã tập tành hầu việc Chúa, làm chứng và tiếp nhận Chúa với mọi người tôi gặp hàng ngày, tham gia những buổi truyền giảng với những bài hát kêu gọi, tham gia nhóm hội nhập văn hóa do mục sư Nguyễn Quốc Ấn lãnh đạo nhóm đã hơn 2 năm với những bài hát dân ca lời Cơ Đốc (Mục sư Ấn viết), đạo diễn cho 5 vở kịch truyền hình do cô Thiên Kiều Giang đại diện tại Canada phát ra các bang của Mỹ. Cám ơn Chúa, khi biết những vở kịch, những bài hát đã được lan ra khắp nơi, mặc dầu tôi chỉ ở Việt Nam.

Tôi biết ơn Chúa vì Ngài đã tạo điều kiện để tôi thực hiện đại mạng lệnh của Chúa là truyền rao Tin Lành đến khắp trái đất. Tôi thầm nguyện với lòng, với những gì Chúa ban cho đời tôi và cứu lấy hết gia đình tôi, hai họ bên gia đình tôi đã tiếp nhận Chúa. Tôi chỉ biết dâng những gì Chúa muốn từ tôi là của lễ với lòng biết ơn Chúa qua việc hầu việc Chúa, qua âm nhạc với lòng khao khát đem Tin Lành của Chúa đến khắp nơi để nhiều người được cứu như tôi. Ánh sáng sẽ chiếm lấy khắp đất, đẩy lùi bóng tối của Satan bởi Tin Lành của Chúa. Amen!

370595 top -

Tâm Sự Của Một Người Tuyệt Vọng
Tác giả: Trương Minh Hùng

Kính lạy Cha yêu thương! Cầu xin Cha giờ này ban cho con có một trí nhớ sáng suốt, một tinh thần bình an, để con có thể viết hết lại những sự yêu thương và ơn phước mà Ngài đã ban trên đời sống con bấy lâu nay. Con xin dâng trọn giờ này trong tay Ngài. Cầu xin Ngài hoàn toàn làm chủ tâm trí của con,con xin dâng hết mọi vinh hiển oai nghi thuộc về Chúa. Con cầu nguyện qua danh Chúa Jesus Christ. Amen.

Sơ lược về hoàn cảnh gia đình:

Kính thưa qúi độc giả và tất cả con cái tôi tớ Chúa thân mến!
Tạ ơn Chúa cho hôm nay tôi có dịp được chia sẻ những phước hạnh mà Chúa đã ban cho tôi trong hơn một năm qua từ lúc tôi tiếp nhận Chúa Jesus làm Đấng Cứu Chúa trong đời sống tôi.

Tôi tên là Trương Minh Hùng sinh năm 1966,một kẻ mồ côi cha mẹ. Mẹ tôi mất lúc tôi 13 tháng. Ba tôi là một người lính Mỹ sang V.N trong chiến tranh từ năm 1965-1966. Người cha mà tôi chưa hề biết. Tôi được lớn lên trong tình yêu thương chăm sóc của bà ngoại. Bà đã nuôi dưỡng tôi từ lúc tôi còn là một đứa bé 1 tháng tuổi. Bà của tôi mà một người được sinh ra trong gia đình Phật Giáo. Tôi không biết từ năm nào.

Cũng như mọi người trong đời này. Tôi được Đấng Tạo Hóa sinh ra và ban cho tôi có một tấm lòng thờ phượng. Nhưng có một điều là lớn lên trong gia đình Phật Giáo nên tôi đã không thờ phượng chính Đấng Tạo Hóa đã tạo ra mình, vì tôi đã không chọn lựa từ lúc nhỏ.

Tôi lớn lên và theo bà ngoại tôi đi chùa, ăn chay, niệm Phật, và mải mê tôn thờ và cúng bái thần tượng. Theo như tôi biết, đạo Phật dạy dỗ con người ăn hiền ở lành. Nhưng thật sự tôi không có hiền đâu qúi vị, Tôi xin kể lại con người cũ trước khi lúc được Chúa cứu. Bây giờ tôi đã được mua chuộc bởi huyết của Chúa Jesus, nên tôi không ngần ngại và phải nói hết để danh Chúa được sáng và mọi vinh hiển được xin dâng cho Ngài.

Sơ lược về cuộc sống phạm tội ở Mỹ:

Tôi được qua Mỹ năm 1987 theo diện con lai. Sau đó 4 năm, tôi được bảo lãnh bà ngoại tôi cùng qua ở với tôi và lấy vợ lập gia đình, vì là một Phật tử tôi cũng theo bà ngọại đi chùa. Sau khi ly dị, tôi bắt đầu sống buông thả, chạy theo kiếp sống trụy lạc và kết bạn cặp bè, rượu chè, đánh lộn, ăn chơi thả cửa, và cuối cùng đi đến con đường nghiện ngập rất nặng. Tôi cũng rất có tiền so với những người chung quanh. Tiền bạc tôi kiếm được tôi đều đốt cháy trong những đêm ăn chơi cuối tuần và những đêm ăn nhậu trong các club. Năm 1992, tôi bị bắt trong lúc di chuyển có mang theo cần sa trong xe. Lần đó tôi bị ra toà và ở tù trong 6 tháng tù treo và bị bắt phải đi cai cần sa trong một trường cai nghiện. Lúc bị bắt thi tôi đi đến chùa lạy lục, cạo đầu, ăn năn, sám hối, nhưng rồi không bao lâu sau, chứng nào tật nấy,không bỏ được. Tôi cứ tiếp tuc cùng bạn bè đi chơi, hút cần sa, nhậu nhẹt, và lần đi đến con đường sử dụng thứ ma tuý nặng hơn và ghiền nặng hơn.

Đến năm 1996, tôi bị bắt trong lúc di chuyển có mang theo bạch phiến trong người. Lần này, tôi bị bắt bỏ tù. Sau khi ra tù,tôi bị bắt buộc đi cai nghiện. Tôi bị tù treo trong 2 năm. Mỗi tháng tôi phải đi trình diện và thử nước tiểu. Thật sự lúc đó tôi rất sợ và tuân theo mọi lệnh luật của tòa. Tôi lo làm ăn và cũng trờ thành một con người tốt trong 2 năm đó.

Nhưng sau 2 năm đó trôi qua. Tôi bắt đầu gặp lại bạn bè cũ và tiếp tục đi theo con đường xưa ăn chơi trụy lạc. Tôi tìm lại cái cảm giác đê mê trong cuộc sống ma quái ấy trong một thời gian. Con ma ghiền lại theo bám tôi vì lúc đó cuộc sống tôi chưa có CHÚA trong lòng. Trong suốt quá trình sống như vậy, tôi đã uống rượu lái xe nhiều lần. Tôi đã bị bắt 3 lần trong khi uống rượu lúc lái xe, xảy ra tai nạn, đánh lộn. Mỗi lần xảy ra chuyện tôi lại tiếp tục đi đến chùa lạy Phật, ăn năn, sám hối. Khi mọi việc tôi đã trả lời trước pháp luật và thi hành luật pháp xong xuôi rồi. Tôi bắt đầu diễn tiến trở lại con đường cũ trong sự tối tăm của ma qủi lôi kéo.

Rồi tôi lại thử thêm thuốc lắc, cuộc sống bắt đầu khó khăn về tài chánh, nên nhà của tôi thường hay bị cúp điện vì tiền điện đến 2 tháng chưa trả. Tủ lạnh thì không có đến chai nước lạnh để uống, nhưng tôi tiếp tục thắp đèn dầu mà ngồi đốt tiền thành khói thảnh thơi, bạn bè lúc có tiền thì rủ nhau hân hoan ăn nhậu, ăn hút. Còn lúc hết tiền thì họ lánh xa. Thân thể tôi lúc bấy giờ om nhom như con ma sống,tinh thần không còn hăng hái làm việc như xưa. Công việc làm thì cứ đi làm trễ, lúc thì gọi bệnh, lúc thì việc cớ này cớ nọ để tiếp tục che dấu và chiến đấu với cái bệnh ghiền của mình.

Cuộc sống theo đà xuống dốc, không bao lâu thì tôi bị đuổi việc vì call sick, và đi trễ nhiều quá. Vì công việc của tôi là thợ tiện. Có liên quan đến sản xuất phụ tùng máy bay (aircraft part) nên tôi làm việc mà đầu óc không có tập trung thành ra bị nhiều lần cảnh cáo về vấn đề làm hư và đi trễ. Dầu vậy, tôi cũng không thay đổi vì con ghiền đã ăn sâu vào tâm trí của tôi. Tôi không coi vấn đền làm ăn là quan trọng nữa, dầu trước đây tôi là môt người rất siêng năng trong viêc làm. Thế là không bao lâu, tôi bị đuổi việc, và không được hưởng được tiền thất nghiệp. Cùng lúc đó, nhà tôi đang mướn đến tháng chưa có tiền để trả cho chủ nhà. Đèn điện bị cúp tối thui vì 2 tháng chưa có trả tiền. Đến lúc đó, tôi nhìn lại thì cảm thấy mình đã đi qúa xa con đường tội tỗi, bế tắc, bạn bè đều xa lánh, bà con muốn giúp cũng e rằng đưa tiền cho tôi, tôi sẽ tỉếp tuc đem đốt thành những làn khói trắng. Trong những lúc khốn cùng như vậy, tôi cũng đã từng nghĩ đến cái chết, nhưng thật ra tôi không có can đảm hành động khi không muốn bà ngoại tôi phải đau khổ khi mất đi một đứa cháu hư hỏng mà bà đã dành hết tình thương cho nó. Ngoại tôi sẽ sống ra sao khi tôi biết tôi có bề gì.

CHÚA đã đến trong lúc hoạn nạn khốn cùng:
Trong lúc cuộc đời tôi không lối thoát thì Ngài đã ban cho tôi một sự sống. Tạ ơn CHÚA, Ngài đã không để tôi phải sinh ra ăn cắp, hay trộm cướp hay đi đến con đường chết. Rõ ràng đây là chương trình của Ngài. Ngài đã đem tôi ra khỏi thành phố mà bao năm qua tôi đã chìm trong u mê tối tăm không có ánh sáng bằng cách là Ngài cho một cặp vợ chồng tôi mới quen trên internet chưa hề biết mặt, cứu giúp tôi trong lúc tôi gặp hoạn nạn. Qúi vị ơi, đây là chuyện CHÚA sắp đặt, chứ không phải là chuyện hiển nhiên hay tình cờ. Lúc còn chơi online tìm bạn bốn phương, tôi tình cờ có quen một người bạn, thật sự tôi không nghĩ người bạn này sẽ giúp tôi cho tôi có công ăn việc làm, có nhà để ở, có tiền bạc. Họ làm chủ tiệm nails ,nhưng thật sự lúc họ không cần thợ nails đến học nghề, và tiệm của họ chưa bao giờ dạy nghề cho ai cả. Nhưng do ý Chúa, Ngài đã đặt để trong lòng họ. Cảm tạ CHÚA, và tôi được hai vợ chồng này cho học nghề nails, ăn ở chung nhà, có công việc làm, lương lãnh nhiều hơn lúc tôi đi làm hãng xưởng. Tạ ơn CHÚA, tôi bắt đầu yêu cuộc sống trở lại, và từ bỏ cái bệnh ghiền kia vì đã trải qua cơn khủng hoảng vừa rồi. Nhưng bia và rượu và thuốc lá thì tôi vẫn uống và hút đều đều.

Bị sở di trú bắt bỏ tù và bắt trục xuất về VN vì tội lỗi của qúa khứ:
Lúc đó tôi làm ăn được gần 2 năm, trong năm 2005 tôi được về VN hai lần, lần đầu về qua lại không có gì trục trặc,. Lần sau về lúc tháng 10, 2005 . Khi chuẩn bị làm thủ tục giấy tờ nhập cảnh lại nước Mỹ thì tôi bị giữ lại. Vì luật mới ra sau khi biến cố năm 11/9/2001, bất cứ ai chưa có quốc tịch trong qúa khứ có phạm tội nặng (felony) khi sống ở Mỹ thì những người có phạm tội đó phải bị bắt giam và trả lời trước luật pháp mới của sở di trú. Tôi đã từng bị bắt với tội mang cần sa, bạch phiến và đã từng bao lần uống rượu lái xe, đánh lộn, nên tôi bị giữ lại và bị bắt bỏ tù để trả lời trước pháp luật của tòa án INS (sở di trú). Mặc dầu những tội đó là cách xa gần 10 năm rồi và tôi cũng đã lãnh án và trả án xong xuôi hết rồi, và cũng đã được trả tự do sau khi xong thời gian của án tù, probation, bị phạt tiền, court disposition vv…

Họ bắt giữ tôi, và khi những nhân viện cảnh sát nhìn vào hồ sơ của tôi, họ đều lắc đầu, và nói rằng: tôi nên chọn con đường là tình nguyện hồi hương về VN thì hay hơn là để toà án INS trục xuất tôi ra khỏi nước Mỹ. Vì theo như họ biết thì hồ sơ phạm tội cũ của tôi nhìn vào không có hy vọng. Tôi hoàn toàn thất vọng khi một chuyện rất quan trọng liên quan đến đời sống và mạng sống của tôi thình lình xãy ra mà không có dự định hay chuẩn bị của tôi.

Tôi như bị một cú sốc thật mạnh đến nỗi tôi sắp gục ngã khi nghe nói rằng tội sẽ bị trục xuất khỏi nước Mỹ và trả về VN. Họ bắt tôi và còng hai tay hai chân tôi như một kẻ phạm tội giết người.

Tuần lễ đầu tiên , tôi được đưa ra tòa để trả lời trước toà. Quan toà kêu tôi liên lạc với người thân, và bảo họ phải tìm cho tôi một luật sư lo về trường hợp của tôi.

Tuần lễ thứ nhì, quan toà hỏi tôi là tôi có định tự nguyện hồi hương về VN hay là tôi đợi toà án trục xuất.Tuần lễ thứ ba tôi được đưa ra tòa, nhưng vì chưa có sự đại diện của luật sư nên ông tòa không xử tôi?

Tuần lễ thứ tư tòa hỏi tôi có muốn nạp đơn xin đi một nước nào khác nếu có một nước nào đó nhân đạo nhận tôi. Tôi xin thú thật với qúi vị, nước Mỹ là một nước nhân đạo lắm rồi, mà họ còn muốn trục xuất tôi thì tôi nghĩ không có một nước nào dám chấp nhận một con người như tôi đâu. Lúc đó tôi cũng không còn tình thần để nghĩ gì nhiều hơn nữa. Tôi cứ phó mặc cho người thân gắng công tìm cho tôi một luật sư.

Tuần lễ thứ năm, người thân tôi đi đến vài người luật sư, lúc đầu ho đòi $3000,rồi lên $5000 nhưng họ không bảo đảm tôi sẽ được trả tự do hay không? Trong khi quan tòa thì muốn tôi phải có luât sư để kết thúc vụ án này cho xong, nên tuần lễ cuối cùng ông ta không đợi được nữa, quan toà kêu tôi là tuần tới ra toà thì tôi phải tự bào chữa cho mình (Self reference) và theo như luật lệ, tôi có quyền đem ra vài người bạn làm chứng về cuộc sống của tôi trong những năm qua như thế nào.

Tuần lễ thứ sáu. lặng lẽ trôi qua tôi sống trong một con người lý trí và tinh thần hoàn toàn sụp đổ, trong khi người thân tôi bảo rằng bao nhiêu luật sư nhìn vào hồ sơ của tôi họ đều lắc đầu và không người luật sư nào đảm bảo nhận vụ án này, vì họ biết chắc rằng nếu họ nhận case này thì cơ hội tôi được ở lại nước Mỹ không có gì là lạc quan cho lắm.Suốt những ngày tôi ở trong tù,tôi không biết đã bao lần van vái cầu xin đến tất cả các vị Phật hằng ngày. Thậm chí, tôi kêu cầu luôn đến những người thân đã chết. Thật bây giờ tôi mới thấy mình qua ấu trĩ và dị đoan vô cùng. Trong khi những ngườI chết kia, họ còn lo cho linh hồn của họ chưa xong, có đâu mà phò hộ cho tôi, thật tức cười. Nhưng suốt mấy tuần đó, Tôi chưa hề tìm được giây phút bình an nào mà sự việc ngày càng trở nên xấu hơn.

CHÚA đã đến kịp lúc, NGÀI đã giải cứu tôi ra khỏi tù:
Sau khi đã van xin hết Phật này Phật nọ, tâm hồn quá mệt mỏi. Còn khoảng hai tiếng đồng hồ nữa là tôi chuẩn bị ra tòa để quan tòa quyết định bước ngoặc quan trọng cho cuộc đờI tôi. Lúc đó bỗng dưng tôi nhớ đến : còn có một Đấng mà tôi chưa kêu cầu đến. Đó là CHÚA JESUS.

Tôi quỳ xuống và cầu xin NGÀI trong nước mắt. CHÚA ơi! Con là người ngoại Đạo,nhưng con tin có CHÚA ở trên cao. CHÚA ơi ! NGÀI đã từng nói : ”ai gõ cửa NGÀI thì NGÀI sẽ mở, ai cầu xin NGÀI thì NGÀI sẽ ban cho. CHÚA ơi giờ đây con cầu xin NGÀI đưa con ra khỏi tù đi CHÚA ơi”.

Tôi nhớ lại những tháng còn ở trại tỵ nạn.Có đôi lần tôi vì ham vui mà đi theo bạn bè vào nhà thờ và nghe loáng thoáng ông cha giảng lời CHÚA. Sau này khi đọc Kinh Thánh tôi mớì biết đó là lờì hứa của CHÚA trong Phúc Âm Ma-thi-ơ đoạn 7 câu 7-8 Và trong Phúc Âm Lu-ca đoạn 11 câu 9-10 .
Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho. Bởi vì, hễ ai xin thì được; ai tìm thì gặp; ai gõ cửa thì được mở.

Giờ ra tòa cũng đến, họ còng hai chân hai tay tôi giải ra tòa. Hai người nhân chứng là chủ tiệm của tôi va cô bạn gái làm chung cũng có mặt. Quan tòa hỏi tôi những câu hỏi về cuộc sống của tôi xảy ra trong quá khứ từ lúc tôi mới bước chân sang Mỹ cho đến hiện tại. Thật sự mà nói, một người đang có tâm trạng bình thường cũng chưa chắc gì nhớ rõ và trả lời được hết. Huống chi tôi đang là một tộị nhân đang trong con đường bế tắc. Tạ ơn CHÚA, Ngài đã cho tâm hồn tôi bình tĩnh và nhớ rất rõ ràng từng chi tiết để trả lờì tất cả những câu hỏi của quan tòa.
Tôi biết chắc chắn rằng: đây chính là cánh tay mạnh sức của Chúa đã giúp sức cho tôi. NGÀI đã ban cho tôi một sự bình an trong tâm hồn và tinh thần sáng suốt để trả lời thành thật. Hai người nhân chứng cũng nói tốt về tôi trong những ngày tôi làm chung với họ.Phiên tòa căng thẳng kéo dài trong mấy tiếng đồng hồ, cuối cùng hai quan toàn đã đưa đến quyết định là: trả tự do hoàn toàn cho tôi ngay ngày hôm đó và tôi được tiếp tục ở lại nước Mỹ. Hallelujah. Cảm tạ CHÚA.

Thật tôi không sao quên những giây phút đó. NGÀI đã giữ đúng lời NGÀI đã hứa trong Thánh Kinh: Thi Thiên đoạn 102 câu 19-20
Vì từ nơi thánh cao Ngài đã ngó xuống, Từ trên trời Ngài xem xét thế gian, đặng nghe tiếng rên siếc của kẻ bị tù, Và giải phóng cho người bị định phải chết

Thật ra, tôi nghĩ mình chỉ là một hạt bụị nhỏ nhoi. Không đáng gì để nhận lãnh sự yêu thương tha thứ của NGÀI. Nhưng với tình yêu thương vô bờ bến của NGÀI, NGÀI đã yêu thương tôi vô điều kiện. Thật ra tôi không có gì để đánh đổi tình yêu ấy của NGÀI. Cảm tạ CHÚA JESUS yêu dấu.

Sau khi được ra tù, tôi trở lại kiếp sống bình thường, tôi đã chưa hoàn toàn dâng trọn sống tôi cho NGÀI vì thế tôi lại tiếp tục con đường lầm lạc tối tăm: thờ hình tượng, rồi dần dần ma quỉ kéo tôi đi lại con đường cũ không bao lâu lại tiếp tục uống bia, hút thuốc lá, hút cần sa. Từ năm 2006-2007 tôi hoàn toàn trở thành con người nghiện bia rất nặng.Tôi không thể thiếu bia trong 1 ngày. Và thuốc lá mỗi ngày hai gói cùng với cần sa không thể thiếu. Thân thể tôi không còn sức sống cộng thêm cái bệnh đau lưng là hậu quả của những lần đụng xe. Mỗi buổi sang tôi phải rất khó nhọc lê lết ra khỏi giường ngủ mình. Hầu như ngày nào cũng vậy.

Ánh sáng của CHÚA chữa lành bệnh tật và soi sáng tâm linh tôi
Vào tháng tư năm 2007, Tôi có dịp đi thăm người cousin của tôi ở California. Cũng như thường lệ, tôi thức dậy trong đau đớn khi bước ra khỏi cái sofa một cách khó nhọc, đã làm người cousin tôi không an tâm. Cô ta dẫn tôi đến một bác sĩ điều chỉnh xương lưng. Thật sự mà nói, ông bác sỉ đó làm lưng tôi thêm đau. Sau đó, người cousin tôi mới nói với tôi rằng: hay là dẫn Hùng đến bác sĩ JESUS.

Tạ ơn CHÚA. Đêm hôm đó, tôi cùng hai người cousin đi đến nơi nhóm họp của con cái CHÚA. Sau khi nghe bà Mục sư Lê Kim Cúc giải thích về CHÚA JESUS, Tôi đã hoàn toàn từ bỏ cái tâm linh của thế giới đen tối kia. Tôi dọn sạch tấm lòng và dâng trọn đời sống tôi cho NGÀI để Ngài làm chủ tâm hồn tôi. THẦN LINH NGÀI cũng giáng trên tôi. Liền lúc đó, tôi cảm nhận được một cảm giác yêu thương đang tỏa khắp tâm hồn và một sự ăn năn thống hối tràn ngập trong tôi. Tôi đã được NGÀI chữa lành đôi mắt tâm linh mù lòa của tôi bao lâu nay. Tôi thật sự khóc với NGÀI, tôi quá sung sướng khi biết được rằng từ đây, tôi có một ngườI CHA Thiên Thượng cao qui hơn tất cả bao nhiêu người cha trên cõi đờI này. NGÀI đã đến và lấp kín hết bao nhiêu nỗi buổn và sự mất mát trong kiếp sống mồ côi của tôi y như lờI NGÀI đã nói trong GIĂNG 1:12
"Nhưng hễ ai đã nhận NGÀI thì NGÀI ban cho quyền phép trở nên con cái ĐỨC CHÚA TRỜI, là ban cho những kẻ tin NGÀI.

Tôi biết được rằng CHÚA đang sống trong tôi. NGÀI đã sanh tôi lại một lần nữa.

Sau đêm tái sanh đó. Sáng hôm sau, cũng ngủ trên một cái giường sofa đêm hôm qua nhưng sáng hôm nay, tôi thức dậy với một con người mới. Bao nhiêu đau đớn của bao ngày qua đã tan biến đi đâu hết rồi. Tôi ngồi bật dậy manh mẽ trước sự ngạc nhiên của tôi và của hai ngườI cousins. Tôi sung sướng đến cảm động, cảm tạ CHúA JESUS trong những giọt nước mắt biết ơn NGÀI. Chúng tôi cùng nhau reo mừng và cảm tạ CHÚA. Trong lúc reo mừng cảm tạ sự chữa lành của NGÀI, tôi cảm nhận được rằng có một tiếng nói thân yêu vang ra từ nơi sâu thẵm của đáy lòng tôi rằng: Ngày ấy ở trong tù, tôi đã kêu cầu cùng NGÀI và chính NGÀI đã mở cửa cho tôi ra. Tạ ơn CHÚA. Tôi không thể nào kềm được cơn xúc động mạnh trước sự nhân từ bao la của NGÀI. NGÀI đã yêu thương tôi từ lâu rồi,cho dù lúc đó tôi chưa thật sự dâng đời sống tôi trong tay NGÀI.

CHÚA thật sự chữa lành hết mọi bệnh tật ghiền bia rượu và thuốc lá, cần sa.

Bây giờ tôi đã thật sự được ánh sáng của NGÀI, làm con của NGÀI. Tánh tình tôi dễ chịu và yêu thương. Sau một tuần ở California tôi về lại tiểu bang Connecticut nơi tôi ở. Tôi tiếp tục đọc lời CHÚA, nhờ lời NGÀI soi dẫn trong hai tuần sau đó, tôi đã thật sự bỏ uống bia, bỏ hút thuốc lá và bỏ hút cần sa một cách dễ dàng trong năng quyền của NGÀI. Tôi đã nhân danh CHÚA JESUS công bố từ bỏ hết tất cả thói hư tật xấu một cách mạnh mẽ nhờ sức mới của NGÀI ban.

Qua năng quyền phép lạ CHÚA thay đổi trên đời sống tôi. Ngoại tôi bắt đầu thấy vui vẻ và tin tưởng nơi CHÚA JESUS. Và bà cũng đã tuyên xưng công bố đức tin dâng trọn đời sống và tâm linh lên CHÚA JESUS. Tạ ơn CHÚA đã tiếp nhận và tha thứ hết bao nhiêu tộI lỗi của ngoại tôi. Bà tôi bây giờ rất được bình an tin tưởng nơi CHÚA và cầu nguyện NGÀi mỗi ngày.

Thánh Kinh Công vụ các sứ đồ đoạn 16 câu 31 lời CHÚA có hứa: Hãy tin ĐỨC CHÚA JESUS,thì ngươi và cả nhà đều sẻ được cưú rỗi (Công vụ các sứ đồ 16:31)


Lời kết

Kính thưa tất cả quí ông bà anh chị em thân thương, sỡ dỉ tôi muốn chia sẻ những phước hạnh của CHÚA đã ban trên đờI sống tôi vì tôi muốn tất cả quí vị đều được hưởng phước hạnh ấy. Từ lúc có CHÚA JESUS làm CHÚA CƯÚ THẾ cho đời sống tôi, tôi được nhận lãnh hoàn toàn miễn phí những phước hạnh bình an mà Ngài tuôn đổ xuống. Sự bình an mà tiền bạc không thể nào mua được đâu quí vị ơi. Tôi xin được chia xẻ tình thương này đến quí vi. Ước mong những ai nếu chưa bao giờ nghe về CHÚA JESUS, hay là chưa tiếp nhận CHÚA làm CƯÚ CHÚA đơì sống mình. Xin hãy đến gần và cầu xin với CHÚA, làm quen với NGÀI vì NGÀI đang sẵn sàng giang rộng vòng tay yêu thương đón chờ. Xin đừng đứng xa xa và xem NGÀI như một ĐẤNG xa lạ. Thật ra, CHÚA rất yêu thương và gần gũi nếu chúng ta kêu cầu đến danh NGÀI. Chúng ta sẽ nhận được biết bao nhiêu là món quà miễn phí quí nhất trên đờI này mà tiền bạc không sao so sánh được.

Xin chân thành cảm ơn hết tất cả quí độc giả , quí ông bà anh chị em gần xa đã lắng nghe và đọc những lờI chia sẻ phước hạnh của CHÚA JESUS. NGÀI sẽ chúc phước thật nhiều trên đời sống của quí vị. Xin kính chúc quí vị luôn luôn bình an và hưởng được nhiều món quà quí giá nhất đến từ NGÀI. Trong danh CHÚA JESUS CHRIST tôi cầu nguyện bình an cho quí vị. Amen !!!

Lu-ca 1:45 Phước cho người đã tin, vì lờI CHÚA truyền cho sẽ được ứng nghiệm !

Xin gởi lời chào thân thương trong ĐẤNG CHRIST đến với quí vị.

Decatur , Illinois 10/ 27/ 2008

Trương Minh Hùng

370927 top -

Bạn có bận lắm không?



Sa-tan mở một hội nghị thế giới. Nó khai mạc bằng cách ngỏ lời với đám ác thần đang vây quanh xúm xít đông đảo. Nó bảo: “Chúng ta không thể nào ngăn cản bọn Cơ-đốc nhân đi Nhà Thờ.



Chúng ta không thể ngăn cản bọn họ đọc Kinh Thánh và biết được chân lý. Chúng ta cũng không thể ngăn cản chúng tạo ra một mối tương quan thân mật với Chúa Giê-xu... Nhưng nếu họ liên lạc được với Chúa Giê-xu, quyền lực của chúng ta đối với họ sẽ tiêu tan!

Vì vậy, hãy cứ để cho bọn họ đi Nhà Thờ, để cho bọn họ giữ nếp sống riêng, nhưng chúng ta nhất quyết phải cướp lấy hết thì giờ của chúng, để chúng không thể có được mối tương quan thân mật với Chúa Giê-xu.



Đấy là điều ta muốn các ngươi làm, hỡi các ác thần đáng kinh tởm của ta! Hãy làm cho bọn họ xao nhãng việc tiếp xúc với Chúa Giê-xu chúng và không tài nào giữ được mối liên lạc ấy suốt cả ngày!”.



Đám ác thần nhao nhao lên: “Vậy chúng tôi phải hành động thế nào để làm được như thế?” Sa-tan liền trả lời một cách thâm hiểm: “Hãy làm cho bọn họ bận rộn với những điều không thiết yếu trong cuộc đời và tạo ra thật nhiều chương trình để cho đầu óc họ không rảnh rỗi. Hãy xúi dục họ tiêu xài, tiêu xài, tiêu xài rồi kiếm tiền, kiếm tiền, kiếm tiền... Hãy thuyết phục các bà vợ đi làm nhiều giờ và các ông chồng đi làm 6, 7 ngày mỗi tuần, từ 10 đến 12 giờ mỗi ngày, để họ có thể thoải mái sống cái cuộc sống trống rỗng của họ. Hãy ngăn cản họ dành thì giờ cho con cái...”



“Khi vợ chồng con cái ly tán thì chẳng bao lâu gia đình sẽ bị công việc gây áp lực ! Hãy kích thích tâm trí họ tối đa, để họ không còn có thể nghe ra tiếng nói êm dịu, nhỏ nhẹ kia...”

“Hãy khuyến khích họ mở máy radio hoặc cassette khi họ lái xe đi làm. Hãy để cho ti-vi, đĩa hình, đĩa nhạc và máy vi tính chạy suốt cả ngày trong nhà. Và làm sao cho các cửa tiệm và nhà hàng liên tục trổi lên những bản nhạc xa rời Kinh Thánh. Điều này sẽ làm cho đầu óc họ bận rộn và cắt đứt được hoàn toàn mối liên lạc với Chúa Giê-xu...



“Hãy đặt trên bàn ăn sáng, tất cả các tạp chí và nhật báo. Hãy chất đầy đầu họ với tin tức 24 giờ một ngày. Hãy làm ngập những giờ phút lái xe của họ với các bản quảng cáo. Hãy đổ tràn vào hộp thư họ những bức thư tào lao, những giấy đặt hàng, bản cá cược, và mọi loại thư khuyến mãi tiếp thị các loại sản phẩm và các dịch vụ miễn phí, cùng với những niềm hy vọng hão...



“Hãy đặt các người mẫu mảnh mai và xinh đẹp trên bìa những tạp chí để cho các ông chồng tin rằng sắc đẹp ngoại hình là điều quan trọng, và họ sẽ chán ngấy bà vợ của mình. A ha ! Điều này sẽ làm cho các gia đình tan vỡ thật nhanh chóng !



“Ngay cả trong các cuộc giải trí của họ, hãy biến chúng thành quá đà. Hãy làm cho họ đi nghỉ cuối tuần về mà mệt nhừ, bất an, và không sẵn sàng bắt đầu một tuần làm việc mới...



“Đừng để họ đến với thiên nhiên để nhìn ngắm các kỳ quan của Chúa. Hãy đưa họ đến các công viên giải trí, các sòng bạc, các hoạt động thể thao, các nơi hòa nhạc và chiếu phim. Hãy làm cho họ bận rộn, bận rộn thật bận rộn !



“Và khi họ gặp nhau để chia sẻ tâm linh, hãy chuyền vào những lời nói xấu và tiếng to tiếng nhỏ để họ ra về với lương tâm bất ổn và tình cảm bất an... “Tiến lên đi, hãy để cho họ dấn thân vào việc cứu vớt các linh hồn. Nhưng hãy đổ vào cuộc đời họ thật nhiều thiện ý đến độ họ không còn thì giờ tìm kiếm sức mạnh nơi Chúa Giê-xu. Chẳng bao lâu, họ sẽ hoạt động bằng sức lực của chính mình, và rồi họ hy sinh sức khỏe và gia đình để phục vụ mục đích ấy. Biện pháp này hiệu quả đấy, hiệu quả lắm !”



Đấy chỉ là một cuộc hội nghị. Và bọn ác thần hăng say chia tay ra về với nhiệm vụ là làm cho các Cơ- đốc nhân khắp nơi bận rộn, thật là bận rộn, quá đỗi bận rộn, phải chạy từ nơi này đến nơi khác...



Tôi đoán là các bạn sẽ đặt câu hỏi: liệu ma quỷ có thành công trong chương trình ấy không? Bạn hãy tự xét lấy nhé!




Bài đăng trên www.monsouptamlinh.com của Ca-Lep Trieu

371174 top -

Chiếu sáng như ngôi sao


LỜI CHÚA
Khi nghe nói về sự sống lại từ cõi chết, một số người chế giễu, nhưng một số khác lại nói: “Chúng tôi muốn nghe ông nói chuyệän nầy một lần nữa.” Vậy, Phao-lô rời khỏi họ. Nhưng có mấy người đi theo ông và tin nhận Chúa. (Công Vụ Các Sứ Đồ 17:32-34
– Bản Truyền Thống Hiệu Đính)


Khi ông Phao-lô truyền giảng tại A-thên, các thính giả phản ứng rất khác nhau:

· Một số người chế giễu

· Một số người muốn nghe ông giảng thêm

· Một số người sẵn sàng tin nhận Chúa

Khi bạn làm chứng về Chúa mà có người muốn nghe bạn giải thích thêm, hoặc có người bằng long tiếp nhận Chúa, bạn cho là bạn thành công. Còn khi bị chế giễu, hoặc bắt bớ thì bạn nghĩ rằng bạn thất bại. Thật ra, thành công hoặc thất bại trong việc làm chứng về ơn cứu rỗi không tuỳ thuộc vào phản ứng của người nghe nhưng tuỳ thuộc vào thái độ của bạn có vâng lời Chúa hay không. Cho nên đừng căn cứ vào phản ứng của người nghe để kết luận bạn thành công hoặc thất bại.

Cần cư xử như thế nào đối với người chế giễu niềm tin của bạn? Có lẽ hơn ai hết ông Phao-lô hiểu vì sao người nghe lại chế giễu hoặc chống đối Phúc Âm. Ông Phao-lô viết: “Trước đây ta là người phạm thượng, bắt bớ đạo và xấc xược với Ngài, nhưng Ngài đã thương xót ta, vì lúc bấy giờ ta chưa có lòng tin nên chưa ý thức được những việc mình làm.” (I Ti-mô-thê 1:13 – Bản Dịch Mới) Vì cớ chưa hiểu hoặc chưa có lòng tin nên chế giễu. Ông Phao-lô liệt những người phản ứng như vậy là “chưa ý thức được những việc mình làm”.

Khi ông Phao-lô phản ứng sai lầm đối với người chia sẻ và Phúc Âm, Kinh Thánh không ghi lại cách Chúa xử trí với ông. Kinh Thánh có ghi lời của ông Ê-tiên trước khi tắt hơi: “Lạy Chúa, xin đừng đổ tội này cho họ.” (Công Vụ 7:60) Về sau ông Phao-lô viết “Chúa thương xót ta”. Câu này cho thấy cách phản ứng của những người bị chế giễu, bị bắt bớ (điển hình là ông Ê-tiên) vì Phúc Âm đã bày tỏ tình yêu thương của Chúa.

Bạn cần bày tỏ tình yêu thương đối với những người chế giễu Phúc Âm và niềm tin của bạn. Đừng phản ứng tiêu cực nhưng hãy cảm thông và tôn trọng họ, vì có thể khi chưa tin Chúa bạn từng phản ứng có tương tư. Hãy cầu nguyện cho họ, như ông Ê-tiên từng cầu nguyện cho những người ném đá giết ông.


LỜI HỨA
Những người khôn sáng sẽ được rực rỡ như sự sáng chói trên bầu trời; và những người dắt đưa nhiều người đến sự công chính sẽ chiếu sáng như các ngôi sao đời đời mãi mãi. (Đa-ni-ên 12:3)


Xuân Trí Phạm

371724 top -

Không Có Tổ Chim Trong Tóc Bạn

Nầy là điều chúng ta dạn dĩ ở trước mặt Chúa, nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì, thì Ngài nghe chúng ta. (1 Giăng 5:14).


Một người đàn ông từng là một Cơ-đốc nhân tuyệt vời trong nhiều năm nói với người khác rằng ông chưa bao giờ có một giờ thất bại trong đức tin.
- “Cái gì?”
Người kia nói trong kinh ngạc:
- “Anh chưa bao giờ biết thất bại nào trong đời sống của tín nhân sao?”[
- “Không, tôi không có ý nói như vậy.”

Người thứ nhất đáp lời:
“Tôi đã biết nhiều lúc của sự thất bại tạm thời, nhưng không lâu quá một giờ. Tôi luôn luôn trở dậy vào trong sự tương giao ngay lập tức bằng việc xưng ra tội lỗi của mình và công bố Lời-hứa của Đức Chúa Trời đã chép trong Kinh-thánh Giăng 1:9: “Nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là Đấng thành tín và công chính sẽ tha tội chúng ta và tẩy sạch chúng ta khỏi mọi điều gian ác.”


Có người nói rằng bạn không thể ngăn một con chim đáp trên đầu của bạn, nhưng bạn có thể giữ gìn để nó không làm tổ trong tóc của bạn. Sự cám dỗ không là tội-lỗi, nhưng chiều theo cám dỗ là điều tội-lỗi. Nếu chúng ta đang ở trên bờ vực của sự buông theo cám dỗ không vâng lời Thiên Chúa, hoặc nếu chúng ta bắt đầu suy niệm đến một điều hay hành động tội lỗi, chúng ta phải nhanh chóng cầu xin Chúa Giêsu kiểm soát ý muốn của mình và làm sạch nó với huyết quý báu của Ngài, để cầm giữ ý muốn cùng suy nghĩ đời sống của chúng ta và mọi thứ liên hệ đến chúng ta.

Chúng ta hít thở tâm linh, thở ra bởi sự thú nhận bất kỳ nghi ngờ hay tội lỗi khác theo như Kinh-thánh 1 Giăng 1:9, sau đó chúng ta hít vào bằng cách tuyên bố trong đức tin một sự tràn đầy tươi mới của Chúa Thánh-linh theo Lời Kinh-thánh 1 Giăng 5:14-15: “Đây là sự vững tâm chúng ta có trước mặt Chúa, nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì, thì Ngài nghe chúng ta. Nếu chúng ta biết không cứ mình xin điều gì, Ngài cũng nghe chúng ta, thì chúng ta biết mình đã nhận lãnh điều mình xin Ngài.” Toa thuốc Kinh-thánh này đã tác dụng trên tôi và hàng triệu người khác trong nhiều năm.

Hãy thuộc lòng và luôn nhớ Lời-hứa của Thiên Chúa: “Đức Chúa Trời là thành tín; Ngài không để anh chị em bị thử thách quá sức của mình đâu, nhưng trong sự thử thách Ngài sẽ mở đường cho ra khỏi, để anh chị em có thể chịu đựng nổi” (1 Cô-rinh-tô 10:13).


Bill Bright (dịch)

372143 top -

CÂU CHUYỆN GIA ĐÌNH

Ở Nhà Với Con




Mỗi sáng khi mẹ thức dậy đi làm là bé Tâm dậy theo, dù trời lạnh hay dù đang buồn ngủ bao nhiêu bé cũng xuống khỏi giường đi theo mẹ. Có khi bé đến ngồi trên chiếc ghế ở bàn ăn, lim dim ngủ tiếp chờ mẹ ra, vì bé biết mẹ sẽ ra chỗ bàn ăn sáng rồi mới đi làm. Ngày nào cũng vậy, bé Tâm bám lấy mẹ cho đến phút mẹ bước ra khỏi cửa. Đối với Tâm, những phút ngắn ngủi quấn quít bên mẹ trước khi phải xa mẹ suốt một ngày như thế hình như rất là quan trọng. Dù bé không nói ra nhưng trong nhà ai cũng thấy điều đó. Lý do là vì hễ hôm nào bé ngủ quá say hay mẹ dậy quá nhẹ nhàng bé không biết, đến khi thức dậy mẹ đã đi rồi, là bé khóc, không chịu ăn, cũng không chịu làm gì cả. Bé Tâm tuy mới ba tuổi nhưng rất là khôn. Có lần bé hỏi mẹ: "Mẹ ơi, tại sao mẹ phải đi làm hoài vậy?" Mẹ đáp: "Mẹ phải đi làm để có tiền mua bánh cho con." Tâm liền nói: "Con không muốn bánh nữa đâu, mẹ đừng đi làm nữa, mẹ ở nhà với con nhen!"

Tất cả các em nhỏ hai ba tuổi, bốn năm tuổi đều mong được ở bên mẹ, không muốn mẹ đi đâu cả. Một bà mẹ trẻ kia có ba đứa con từ 2-6 tuổi. Mỗi buổi tối, khi bốn mẹ con nằm trên giường trò chuyện với nhau, mấy đứa con lại hỏi: "Mẹ ơi, ngày mai mẹ có phải đi làm nữa không?" Các em mong có ngày mẹ sẽ trả lời: "Không, ngày mai mẹ không phải đi làm nữa!" Nhưng không biết ngày đó bao giờ mới đến. Một em bé trai nọ, cứ hay khóc khi mẹ đem em đến nhà giữ trẻ. Mẹ dỗ em và nói: "Con chịu khó để mẹ đi làm có tiền rồi mẹ mua đồ chơi cho con." Vài tuần sau, khi mẹ em sửa soạn đi làm, cậu bé đem năm đồng xu đến đưa mẹ và nói: "Con cho mẹ tiền nè, mẹ đừng đi làm nữa!"

Nếu quí vị là những bà mẹ có con nhỏ và phải gởi con đi làm, có lẽ quí vị cũng nhiều lần nghe con thỏ thẻ bên tai những lời tương tự như trên. Nhật báo Los Angeles Times, số ra ngày 22 tháng 8 năm 1999, trong mục nói về đời sống hằng ngày cho biết rằng ngày nay số các bà mẹ có con nhỏ không đi làm ở ngoài để ở nhà nuôi con ngày càng gia tăng. Đây là một thay đổi rất lạc quan, vì sẽ giúp củng cố nền tảng gia đình và giảm bớt nạn thanh thiếu niên phạm pháp. Các thống kê cho biết, hiện nay có đến 36% phụ nữ có con dưới 6 tuổi nghỉ việc để ở nhà nuôi con, dù họ làm những ngành nghề lương cao. Và 29% số phụ nữ có con nhỏ chỉ đi làm bán thời gian để có thì giờ ở nhà chăm sóc con. Một phụ nữ 30 tuổi, bằng lòng bỏ việc làm 30 ngàn Mỹ kim một năm để chuẩn bị nuôi đứa con đầu lòng. Cô nói: "Tôi biết tôi là người có đủ điều kiện hơn ai hết để nuôi con của tôi, vì tôi là mẹ nó. Đối với tôi điều quan trọng nhất trong đời là con tôi sẽ học nơi tôi những gì tôi muốn dạy cho nó. Tôi không đủ điều kiện dạy con người khác, mà cũng không muốn gởi con tôi cho người khác chăm sóc, dạy dỗ."

Lời Chúa trong Thánh Vịnh thứ 127 dạy rằng:
Chúa cho chúng ta con cái làm cơ nghiệp, tử tôn là phần thưởng của Ngài

Con cái là điều quý giá nhất Chúa ban cho chúng ta trong đời tạm nầy. Thật ra ai cũng đồng ý rằng con cái là điều quý nhất, quý hơn tiền bạc, tài sản hoặc bất cứ điều gì khác. Bao nhiêu cha mẹ thương con đến độ sẵn sàng chịu chết, chịu đau thế cho con. Tuy nhiên, đó là khi con gặp đau ốm hiểm nguy, còn khi mọi việc bình an bình thường, chúng ta dễ bỏ quên con cái để đeo đuổi những điều khác.

Ngày xưa, trong thời Cựu Ước, có những nhóm người có tục lệ thờ cúng rất là kinh khiếp, đó là họ đem con cái thiêu sống làm tế lễ dâng cho các thần. Thánh Vịnh thứ 106:37-38 ghi như sau: "Họ bắt con trai con gái mình mà cúng tế ma quỷ. Làm đổ máu vô tội ra, tức là máu của con trai con gái mình, mà họ cúng tế cho hình tượng xứ Ca-na-an." Ngày nay không ai thờ cúng một cách tàn ác như thế, nhưng nếu vì ham mê tiền bạc, vật chất mà cha mẹ không có thì giờ ở gần bên con, dạy dỗ con, để con chịu những ảnh hưởng xấu của xã hội, khiến con hư hỏng, đó cũng chẳng khác gì vì thần tài mà chúng ta hy sinh con cái.

Một vị Mục sư nọ sau nhiều năm hầu việc Chúa đã nói: "Tôi đã chứng kiến giây phút cuối cùng của nhiều người, và tôi nhận thấy điều này, đó là không người nào trong giờ lâm chung nói rằng, tôi ân hận vì đã không làm ra được nhiều tiền hơn, nhưng tôi chứng kiến bao nhiêu người nói: Tôi ân hận đã không dành thì giờ cho người thân yêu, không làm trọn trách nhiệm đối với người trong gia đình. Điều đó cho thấy đến cuối cuộc đời, tài sản vật chất không có ý nghĩa gì, nhưng chỉ có tình thương yêu, lòng quan tâm và hy sinh chúng ta dành cho người khác là có giá trị thôi."

Có những bậc cha mẹ con cái bây giờ đã lớn, nhưng không nên người như cha mẹ mong muốn. Những bậc cha mẹ đó, nhất là các bà mẹ, rất ân hận đã không dành thì giờ cho con như đáng phải có. Họ ước gì có thể quay lui thời gian lại 10 năm, 15 năm, họ sẽ dành thì giờ chăm sóc con nhiều hơn. Nhưng đó chỉ là mơ ước mà thôi.

Đối với quý vị có con còn nhỏ, chưa đến tuổi đi học hoặc còn học tiểu học, quý vị còn cơ hội để đặt lại thứ tự ưu tiên. Ước mong quý vị sẽ đặt đúng thứ tự ưu tiên cho đời sống để sau này quý vị không còn gì phải ân hận.

Theo Lời Chúa trong Kinh Thánh, dạy dỗ con cái là trách nhiệm hàng đầu của cha mẹ. Châm ngôn 22:6 ghi: "Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, dầu khi nó trở về già, cũng không hề lìa khỏi đó." Chúng ta phải dạy con khi con còn nhỏ, còn mềm mại, còn có thể uốn nắn được.

Thánh Kinh cũng dạy: "Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức, kính mến Chúa Hằng Hữu. Các lời mà ta truyền cho ngươi ngày nay sẽ ở tại trong lòng ngươi; khá ân cần dạy dỗ điều đó cho con cái ngươi, và phải nói đến hoặc khi ngươi ngồi trong nhà, hoặc khi đi ngoài đường, hoặc lúc ngươi nằm hay là khi chỗi dậy" (Phục Truyền 6:5-7).

Theo những câu Kinh Thánh này, chúng ta phải dạy con Lời Chúa, dạy con điều hay lẽ phải, trong mọi nơi, mọi lúc. Bất cứ trong khung cảnh nào, thì giờ nào trong sinh hoạt hằng ngày chúng ta cũng tìm cơ hội để dạy con. Ai là người ở gần các em nhỏ khi nằm ngủ, khi thức dậy, khi ở trong nhà, khi đi ngoài đường, nếu không phải là cha mẹ? Đặc biệt là các bà mẹ? Chỉ có cha mẹ, nhất là người mẹ, mới ở cạnh bên con trong mọi sinh hoạt trong ngày, và cha mẹ cần nắm lấy cơ hội ở gần con, những giờ phút ở gần bên con để dạy con những điều cần thiết, về đức tin cũng như những điều quan trọng khác trong cuộc sống.

Ngày nay có nhiều bà mẹ đi làm nhưng lúc nào cũng áy náy không vui, nhất là khi phải đem con ra ngoài trời sớm, trong mùa đông lạnh lẽo, phải gởi con cho người khác chăm sóc. Các bà muốn ở nhà với con nhưng vì nhu cầu của gia đình, vì những nợ nần phải trả, vì đã lỡ mua nhà mua xe, vì chồng chưa có việc làm chắc chắn, vì cần có bảo hiểm sức khỏe cho gia đình... Có rất nhiều lý do và những lý do đó đều chính đáng.

Tuy nhiên, nếu chúng ta đã biết đâu là điều tốt cần làm và quyết tâm làm, chúng ta sẽ có thể làm được, nhất là nếu chúng ta nhờ cậy Đức Chúa Trời dẫn dắt và giúp đỡ. Chúa sẽ giúp chúng ta sáng suốt nhìn thấy vấn đề và sẽ hướng dẫn chúng ta từng bước một. Trong thư gởi cho tín hữu tại thành Rô-ma, thánh Phao-lô viết: "Anh em đừng khuôn rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo" (Thư Rô-ma 12:2).

Có lẽ đây cũng là điều chúng ta cần làm hôm nay. Đừng làm theo những gì ta thấy người khác làm, cũng đừng in trí là mình không thể thay đổi hay làm khác được, nhưng hãy đổi mới tâm thần, thay đổi cái suy luận của tâm trí, đặt lại thứ tự ưu tiên trong đời sống, tìm kiếm điều gì tốt, điều gì đẹp lòng Chúa, điều gì hoàn hảo. Và khi đã tìm được rồi, hãy nhờ Chúa giúp sức để ta có thể làm được. Ví dụ chúng ta đã thấy rằng việc nuôi dạy con là trách nhiệm hàng đầu của cha mẹ. Các em nhỏ cần ở gần mẹ để được mẹ hướng dẫn, chăm sóc chu đáo. Không người nào có thể chăm sóc một đứa bé với tình thương yêu đầy trọn như chính mẹ của nó. Nếu chúng ta đã thấy rõ thứ tự ưu tiên trong đời sống và muốn thực hành để con cái không bị thiệt thòi sau nầy, chúng ta hãy cầu xin Chúa, Ngài sẽ giúp chúng ta.

Đến đây chúng tôi cũng xin mở ngoặc để thưa rằng không phải hễ gia đình nào có mẹ ở nhà lo cho con là con sẽ tự khắc nên người tốt, vì điều đó còn tùy thuộc nhiều yếu tố khác như: người mẹ nuôi dạy con với tinh thần và thái độ như thế nào, ông cha đóng góp vào việc dạy con như thế nào... Nếu người mẹ ở gần con nhưng không dạy dỗ, không làm gương tốt mà chỉ la mắng, than van suốt ngày thì dĩ nhiên là sẽ có ảnh hưởng tiêu cực trên đời sống con (còn tiếp).

Minh Nguyên
Chương Trình Phát Thanh Tin Lành


372199 top -

CÂU CHUYỆN PHÚC ÂM

Việc Làm & Đời Sống

Do Mục Sư Nguyễn Thỉ Biên soạn & Trình bày

Ở Mỹ có hai ngày lễ lớn, lớn không phải vì đặc biệt nhưng lớn vì nó đánh dấu hai ngày quan trọng trong đời sống hằng năm của người Mỹ. Hai ngày lễ đó là ngày Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong, Memorial Day và ngày Lễ Lao Động, Labor Day. Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong nhằm vào ngày thứ Hai cuối cùng của tháng Năm và lễ Lao Động vào ngày thứ Hai đầu tiên của tháng 9. Khoảng giữa hai ngày lễ nầy là những ngày nghỉ hè của đa số các trường học và cũng là dịp nghỉ hè của nhiều người. Cuối tuần nầy thường được gọi là cuối tuần cuối cùng của mùa hè. Học sinh, sinh viên bắt đầu đi học lại và đời sống trở lại với những sinh hoạt bình thường.

Đối với những người chưa có dịp nghỉ hè, cuối tuần nầy là dịp để nghỉ. Đối với những người đã nghỉ hè thì một trong những điều khó nhất là trở lại với công việc hằng ngày. Sau khi được nghỉ một thời gian, chúng ta dễ cảm thấy lười biếng và không muốn đi làm trở lại. Chúng ta suy nghĩ ước gì hay giá mà được nghỉ thêm ít lâu nữa thì thích biết mấy, nhưng sự thật vẫn là sự thật, ta phải đối diện với thực tế, phải trở về với việc làm hằng ngày. Thật ra, thái độ của chúng ta, cái nhìn của chúng ta với việc làm mới là điều quan trọng. Khi chúng ta có cái nhìn đúng vào việc làm hằng ngày, ta sẽ không còn thấy đó là điều đáng buồn đáng nản nữa, nhưng sẽ vui vẻ bắt tay với công việc hằng ngày.

Để có một cái nhìn đúng đối với việc làm, ta cần có một triết lý sống đúng và triết lý nầy đặt căn bản trên niềm tin của chúng ta. Đối với những người đặt lòng tin nơi Chúa Cứu Thế, triết lý sống của chúng tôi hay niềm tin của chúng tôi về việc làm như sau:

1. Việc làm là một tiếng gọi
Việc làm là một tiếng gọi nghĩa là thế nào?
Việc làm là tiếng gọi nghĩa là coi việc làm là một thiên chức. Nếu có ai hỏi chúng ta, Tại sao anh hay chị đi làm, thì câu trả lời đương nhiên là đi làm để sống. Nhu cầu căn bản của con người là cơm ăn, áo mặc, nhà ở và để có những thứ nầy ta cần phải có tiền. Và để có tiền ta phải đi làm, không ai cho chúng ta tiền luôn bao giờ. Đi làm, dù là làm việc gì cũng đều có cái khó, cái khổ, cái buồn của nó, nhưng ta không thể tránh không làm việc. Thật ra không có việc làm ta sẽ cảm thấy khó chịu vô cùng vì việc làm là một phần của đời sống.

Khi Thiên Chúa tạo dựng con người và trước khi con người phạm tội, Thiên Chúa đã giao công tác cho con người là trồng và giữ ngôi vườn địa đàng tốt đẹp mà Ngài đã tạo dựng. Làm việc vì vậy là một thiên chức, một phần của đời sống. Ta không thể ăn không ngồi rồi mà tìm thấy ý nghĩa của đời sống bao giờ. Ngoại trừ những trường hợp bênh hoạn hay những người quá già yếu, làm việc bao giờ cũng là một phần của đời sống. Những người lớn tuổi, dù không làm việc nữa vẫn luôn luôn tìm thấy những việc làm nhỏ nhặt, tình nguyện là niềm vui cho đời sống.

Nếu chúng ta biết, nếu chúng ta ý thức việc làm là một phần của đời sống, việc làm là một thiên chức, việc làm là một tiếng gọi, chúng ta sẽ có một thái độ hoàn toàn mới với những gì chúng ta đang làm.

Trước hết chúng ta sẽ bỏ đi thái độ phàn nàn, chán nản, oán trách, cho rằng đi làm là đi cày, là kéo cày trả nợ. Chúng ta cần nhớ rằng Thiên Chúa tạo dựng chúng ta là để chúng ta làm việc chứ không phải để chúng ta ở không. Việc làm là một phần của đời sống. Khi suy nghĩ việc làm là tiếng gọi, là thiên chức, là một phần của đời sống, ta sẽ vui vẻ làm việc dù khó nhọc hay có khi không thích hợp và có những điều khiến chúng ta dễ bực mình.

Trong xã hội học có một thành ngữ tạm dịch là "triết lý làm việc của người Tin Lành" tiếng Anh là, "Protestant work ethics." Triết lý nầy phát xuất từ những nước Bắc Âu và một số nước khác ở Âu châu chịu ảnh hưởng mạnh của phong trào Cải Cách Giáo Hội trong thế kỷ 16. Người dân ở những nước nầy ý thức sâu xa việc làm là một tiếng gọi, là một thiên chức cho nên làm bất cứ việc gì họ cũng vui vẻ, tận tâm mà làm. Họ không cho rằng mình làm việc cho một cá nhân hay đoàn thể nào, nhưng làm việc theo một tiếng gọi trên cao. Chính nhờ tinh thần đó mà kinh tế ở những nước nầy đã phát triển nhanh và đưa đất nước đến chỗ phú cường. Ngược lại, cũng có những quan niệm khác về làm việc đã khiến cho nhiều xã hội chẳng những không tiến bộ mà còn đi dần đến chỗ thoái hóa.

Như vậy chúng ta thấy rằng chỉ một quan niệm sống, một quan niệm về làm việc cũng ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả công việc cũng như sức khỏe tinh thần của người làm việc.

Sau ngày lễ Lao Động, mỗi chúng ta sẽ trở lại với công việc thường nhật, ước mong mỗi chúng ta sẽ nhìn vào công việc của mình với một cái nhìn mới. Hãy nhớ rằng việc làm là một thiên chức. Thiên Chúa đã đặt chúng ta trên quả đất nầy làm việc, không phải để ngồi không. Ý thức như vậy ta sẽ vui với công việc dù không thể nào tránh khỏi những phiền hà nặng nhọc hay khó chịu trong công việc.

2. Chỉ có một điều nầy chúng ta nên nhớ, và đây là điều rất quan trọng. Một mặt, việc làm là thiên chức của con người, mặt khác, làm việc nặng nhọc hay lao động là hình phạt của con người.

Thiên Chúa tạo dựng con người, đặt con người trong vườn địa đàng để trồng và giữ vườn, nhưng con người đã bất tuân lời Đức Chúa Trời và hình phạt con người phải chịu là phải làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn. Lao động thật sự không phải là vinh quang nhưng lao động là hình phạt và chỉ trong Chúa Giê-xu là Đấng gánh vác tội lỗi cho chúng ta, chúng ta mới thật sự được an nghỉ.

Nhìn vào việc làm với hai cái nhìn đó sẽ giúp chúng ta một mặt thỏa lòng trong công việc thường nhật, mặt khác giúp chúng ta biết tìm đến với Chúa Cứu Thế để giải quyết vấn đề bất an cho chúng ta bởi vì cỗi rễ của ván đề là tội lỗi và chỉ khi nào vấn đề tội lỗi được giải quyết ta mới thật sự được an nghỉ.

Như vậy ta đã thấy hai điều quan trọng về việc làm: (1) Việc làm là thiên chức. (2) Việc làm khó nhọc hay lao động là hình phạt của Thiên Chúa.

3. Sau khi ý thức hai điều trên và đặt lòng tin nơi Chúa, chúng ta sẽ đi đến điểm thứ ba, đó là dù làm việc gì, chúng ta phải nhớ rằng mục đích của chúng ta là làm rạng danh Thiên Chúa. Thánh Kinh dạy: "Anh em hoặc ăn hoặc uống hay là làm bất cứ việc gì hãy làm vì vinh quang của Thiên Chúa."

Ở đời nầy người ta thường có những cái nhìn khác nhau về công việc. Có những nghề được trọng vọng, cũng có những nghề bị coi thường. Nhưng thưa quý vị, dựa vào lời dạy của Chúa, không có nghề nào là hèn hạ bị coi thường cả, chỉ những việc làm gian dối hại người hay bất chính, đi ngược lại với pháp luật và đạo đức mới đáng bị coi thường mà thôi. Vì vậy, dù làm việc gì, ta hãy hãnh diện và làm việc hết mình, coi đó như cách chúng ta làm vinh danh Thiên Chúa.

4. Điểm cuối cùng cũng là điểm rất quan trọng trong vấn đề làm việc hay việc làm, đó là chúng ta phải trả lời được câu hỏi: "Chúng ta đi làm để được điều gì?"

Dĩ nhiên chúng ta đi làm để có tiền sinh sống, nhưng thưa quý vị, đó không phải là mục đích cuối cùng của việc làm. Chúa Cứu Thế Giê-xu khi còn ở trần gian đã thực hiện một phép lạ, hóa bánh ra cho 5,000 người ăn. Đám người nầy về sau đã theo Chúa để mong luôn có được miếng ăn. Và Chúa đã phán dạy họ những lời như sau: "Hãy làm việc chớ vì đồ ăn hay hư nát nhưng vì đồ ăn chẳng hư nát."

Chúng ta đi làm đến cuối tuần hay cuối tháng thì được lãnh tiền. Nếu bây giờ thay vì phát tiền, người chủ phát cho chúng ta trái cây và rau cải thật nhiều tương đương với số tiền chúng ta làm. Chắc không ai trong chúng ta muốn lãnh lương như vậy vì số trái cây và rau đó dù ăn nhanh, dù bán đi cũng không hết và sẽ bị hư thối hết. Cũng vậy, không ai làm việc để rồi chỉ nhận lãnh những gì sẽ tàn phai, mai một. Chúng ta muốn đổ công ra sức để nhận được một cái gì trường tồn, vĩnh viễn. Đó chính là ý nghĩa lời Chúa Giê-xu dạy: "Hãy làm việc, đừng vì đồ ăn hay hư nát nhưng vì đồ ăn còn lại đến sự sống đời đời."

Và Chúa Giê-xu đã cho biết làm việc để nhận được thức ăn còn lại đến đời đời chính là đặt lòng tin nơi Chúa, đeo đuổi những giá trị trường tồn vĩnh cứu trên đời.

Bạn thân mến, cuối tuần nầy chúng ta sẽ nghỉ lễ để rồi tuần tới bắt đầu một năm học mới, một chu kỳ mới của việc làm. Việc làm của chúng ta vui hay buồn, thích thú hay không có lẽ chúng ta không thay đổi được. Nhưng có một điều chúng ta thay đổi được đó là thái độ của chúng ta, cái nhìn của chúng ta vào công việc.

Hãy ghi nhớ lời Chúa dạy về việc làm: việc làm là thiên chức, việc làm là tiếng gọi, làm việc là để làm rạng danh Thiên Chúa và ta hãy làm gì để còn lại trong cõi vĩnh hằng, đừng chỉ chăm chú những gì chóng tàn phai ở đời.

Trên hết hãy nhớ rằng tội lỗi là nguyên nhân của mọi khổ đau, hãy đến với Chúa để được Ngài ban cho sự an nghỉ đích thực. Mời Bạn đến với Chúa, tìm an nghỉ nơi Ngài và rồi sẽ có cái nhìn đúng vào đời sống và việc làm để rồi Bạn sẽ có thể luôn luôn vui sống dù cuộc đời cực nhọc đến đâu chăng nữa

Mục Sư Nguyễn Thỉ
Chương Trình Phát Thanh Tin Lành


372504 top -
Cơ Đốc Nhân
1 ... 3, 4, 5, 6, 7, 8


PayPal về email:
thuquy.vietditru@gmail.com


Chi phiếu gửi về:
Hoanh Ton
6879 Amherst St.
San Diego, CA 92115



Việt Nam chuyển tới:
Phạm Thị Tuyết Phượng
Số tài khoản: 4973099
ACB Châu Văn Liêm, TPHCM



Ý kiến về Quỹ VietDitru

Image
Image